Nhóm 1% QGHC - Thông tin nội bộ QGHC Tỵ Nạn Hải Ngoại. Thiết lập từ 2008- Email Liên Lạc: cnguyqghc@gmail.com
Showing posts with label QGHCTonThatTueUSA. Show all posts
Showing posts with label QGHCTonThatTueUSA. Show all posts

Monday, March 11, 2019

Đánh máy chữ, chuyện xưa 
ttt 

Inline image Trong thế giới mù, người chột làm vua. Đó là trường hợp cha tôi làm nhiều người khiếp đảm trong thập niên 1930 với danh hiệu đánh máy chữ “aveugle, dix doigt” (đánh mù mười ngón) khi ông từ Hà Nội về Huế đem theo kỹ năng nầy cùng bằng tham tá thương mãi. Thiệt ra cả thế giới, bất cứ thư ký nào trong công sở hay thương trường đều làm được vậy. Ngày nay học sinh đánh máy chữ còn nghề hơn nữa. Nghệ thuật và nghề đánh máy chữ tiếng Pháp là dactylographie trong lúc tiếng Anh chữ tương tự dactylography là ngành lấy dấu tay giảo nghiệm hay căn cước. 

Tiếng Pháp chỉ dính một chút là lấy đầu ngón tay chọt vào phiếm. Tiếng Việt nếu theo Tàu là đả tự, người đánh máy chữ là đả tự viên. Người Pháp dùng thêm chữ “frappe” cho nên Việt mình vừa lòng Tây và Tàu trong chữ đánh máy chữ. Frappe là một lần gõ chữ làm cho búa đánh vào trục; lỗi đánh máy chữ là faute de frappe. Máy chữ có cơ hành gần như dương cầm: tay bấm phiếm, phiếm chuyển qua búa, búa đánh vào dây. Do đó thiết nghĩ phiếm chữ và phiếm piano đều gọi là keyboard. Nhưng sử dụng phiếm piano là keyboardist khác với typist. Búa đánh vào ruy bang (ruban) in chữ lên giấy và ấn thêm vào các lớp giấy than thành phó bản. Ruban xưa kia bằng vải, nửa trên màu đen hay xanh nửa kia đỏ; có nút thay đổi nhưng chỉ có ở bản chính. Bản chính từ ruban có giá trị duy nhất trong các khế ước vì ruban có dầu và không tẩy được. Ruban chạy cuốn qua trục, đổi qua đổi về. Các bản giấy than có tính cách thông tri; người nhận chính sẽ nhận bản bằng ruban. Bản giấy than gọi là carbon copy, viết tắt là CC, bây giờ trên email vẫn dùng CC. Các bàn máy đánh chữ ở VN theo phiếm của Pháp chỉ khác với Anh Mỹ là chữ A và chữ Q. QWERT / AWERT; giống như bàn phiếm computer hiện nay. Muốn tránh tình trạng “vợ đẻ và vỡ đê” thì dùng viết tay thêm dấu. Về sau có bàn phiếm tiếng Việt. Cải biến gồm hai tác động chính: thứ nhất các nút chữ không dùng trong tiếng Việt được thế bằng mẫu tự Việt: WZJF trở nên Đ. Ư. Ơ. (không nhớ rõ chữ thứ tư hoặc thành dấu kép gồm dấu mũ và hỏi hoặc ngã: tổ / ngỗng). Tác động thứ hai là đánh các dấu. 

Chuyện nầy rất nhiêu khê. Nguyên tắc chính là khi đánh vào nút dấu thì trục không chạy như đánh các chữ khác, chờ đến khi có chữ mới chạy. Ví dụ muốn viết: nhỏ thì đánh n / h / dấu hỏi rồi đến o. Thói quen nầy tôi phải sửa khi dùng VNI trên computer. Các nút mang dấu nầy trước kia mang những option như @ & * rồi rút lò xo động chuyển, tùy cách của từng nơi chế biến. Năm 1962 có cuộc họp để thống nhất và gởi kết quả cho các nhà sản xuất chế biến trước khi nhập cảng vào VN. Thập niên 1970, xuất hiện bàn máy chữ điện; bàn tay chỉ đụng nút thì búa tự động đánh chữ. Nhưng khó hiểu nhất là sáng kiến của IBM, các mẫu tự và dấu bao quanh một quả cầu; quả cầu có thể thay đổi theo kiểu chữ (selectric). Khó hiểu là các mẫu tự có thể ở rất xa nhau như nửa quả đất mà không cản trở tốc độ. Đó là điện; khác với điện tử. Cả IBM và Canon Nhật chế tạo máy đánh chữ điện tử; tôi có dùng máy của Nhật Brother; các mẫu tự xếp trên một cái dĩa gọi là “daisy wheel” thay đổi kiểu chữ. 

Ruban bằng giấy xài một lần, có thêm ruban xóa chỗ sai; ruban nầy không có dầu như xưa. Cái máy rất rẻ, chưa được một trăm đô nhưng đánh chừng bảy trang đã phải mua ruban mới mất 7 đô. 2012 Brother sản xuất máy cuối cùng. Ngày nay Amazon vẫn bán đủ thứ có lẽ tồn kho. Nói tới bàn máy chữ thì phải nói đến roneo. Roneo in thành nhiều bản từ tờ giấy sáp (stencil). Stencil nguyên gốc là một tấm kim loại, gỗ khoét chữ khoét hình để thổi sơn lên để lại dấu tích mình muốn. Stencil tạm hiểu như một tấm tơ thưa và phủ lên trên bởi một lớp sáp. Bỏ lên bàn máy và đánh như thường nhưng không có ruban, chữ trên các búa ấn lên sáp tạo thành những khe để mực đi qua như stencil cổ. 

Không đánh mạnh quá để không lấy mất phần xơ, ví dụ chữ O không thành một chấm đen lớn; ngược lại phải dùng bàn chải chùi sạch sáp trên các búa. Muốn ký, vẽ thì dùng cây bút sắt làm mất lớp sáp. Roneo đầu tiên là nhãn hiệu của một máy in quay tay ghép từ hai chữ rotary và neostyle; về sau thành danh từ chung. Các tiệm in roneo thịnh hành vì in ấn dễ dàng với số lượng nhỏ như các luận án ra trường; học sinh các lớp làm các đặc san lưu niệm; Hướng Đạo, Phật Tử làm nội san. 

Nhưng roneo là một miếng mồi ngon khó kiếm: nếu bạn được phép một giáo sư cho in các bài giảng. Nhất là trường luật, cứ mua cua (cours) học cuối năm đi thi. Kỹ nghệ nầy cho thấy các thầy không bao giờ soạn bài mới, tìm tòi, hay cập nhật hóa, cứ vậy mà in./- Hết.

Monday, November 26, 2018

mẹ và chị và cha






Những hình ảnh thân thương trong nhà vườn Huế vì có hàng chè tàu bao bọc hàng trăm năm qua
giàu nghèo đều có hàng chè tàu xanh
mẹ và chị và cha
tôn tht tu 

Từ bé, tuần nào tôi cũng được chị đưa đi thăm mộ mẹ. Tôi không còn sợ hãi những chiều nắng quái trên đồi. Nhờ vòng tay ấm của chị, các cồn mồ biến thành những sân chơi trường mẫu giáo. Huế không có nghĩa trang kiểu tây phương Saigon với các ngôi mộ sắp xếp cạnh nhau như cá hộp.


Bước ra khỏi thành phố, ta thấy ngay các vùng chôn mồ mả, nhất là phía đồi cao như Nam Giao, Ngự Bình. Mồ mả xoay hướng khác nhau tùy sự đặt để của các thầy địa lý (phong thủy) qua các la bàn bát quái với các lằn quẻ âm dương. Đa số là các mộ đất như nắm xôi in trong chén rồi đổ ra mâm. Một thành quách cao không quá bụng chạy vòng quanh các bánh xôi ấy như ôm thương người nằm xuống.


Tôi thích những cành hoa sim dại, những cành bông trang đỏ có trái xanh nhai chát chát. Những cành chủi có mùi thơm gần giống dầu khuynh diệp bẻ về làm chổi rành quét sân. Có những lần ham bẻ cành, tôi đã ngả vào bụi lùm làm chị ngỡ tôi bị ma thu.


Cho đến giờ nầy, tôi vẫn vô lý nghĩ trên đồi vắng nơi chôn mẹ chỉ có hai chị em. Đứa bé trong tôi không sống xa khỏi vòng tay của chị và một nấm mộ mà người nằm bên dưới không có trong đầu óc tôi một hình ảnh nào ngoài danh từ mẹ với quyến luyến của trí tưởng và tâm hồn trẻ thơ, tình cảm tự nhiên trời đất dành cho một đứa bé. Chị tôi đã làm chủ không gian vật thể và tâm cảm của tôi.


Một lần tôi thấy sự hiện diện vô biên của chị. Chúng tôi không bao giờ đem theo nải chuối, bó hoa hay gói bánh cúng mẹ. Vỏn vẹn một bó nhang thơm và một hộp diêm, chị giữ rất kỹ. Hôm ấy sao tôi thích cái hộp diêm quá, có hình con bướm vàng tươi. Chìu em, chị cho tôi giữ. Đi ít lâu tôi bỏ vào túi quần, túi thủng đến nơi may chỉ còn một cây và cái hộp. Lấy bao nhang mồi lửa thì một que đã đủ. Nhưng gió quá, chiếc nón lá không đủ che nên lửa tắt.


mỗi nơi chôn mả, có một lều tranh, nhà ông trùm. Đất chôn thì không của ai nhưng ông trùm bao thầu sửa mộ, thắp nhang cho những đám mới chôn. Từ mộ mẹ đến ông trùm khá xa. Nơi ấy mới có lửa. Trời khá chiều, chị bảo tôi đứng tại chỗ, chị đi đốt nhang.
"Em đứng đây không sao, có mẹ đây"; vừa nói chị vừa chỉ tay vào nấm mộ. Tôi vâng lời đứng một mình. "Có mẹ đây", tôi nghe mãi trong tai, tôi chăm chú nhìn vào nắm đất tròn như bánh xôi. Mẹ đâu? mẹ như thế nào? tôi chẳng mường tượng ra ngoài một niềm thương bao la. Tôi thấy tôi chỉ đứng một mình, không có mẹ như chị nói, còn chị cũng không có đây. Tôi run sợ. "Chị đâu? chị đâu?" tôi la to hoảng hốt.

Tôi chạy về phía nhà ông trùm. Đâu có lối đi, chỗ cao chỗ thấp. Sợ quá tôi chạy băng lên một nấm mộ; tôi té đầu chúi xuống, hai chân trên đỉnh mồ của ai. Tôi sợ quá nên nằm yên tuy không thương tích gì. Lúc sau tôi thấy một bóng ma giữa ban ngày tay cầm cây đuốc mặc chiếc áo trắng dài đi rất nhanh. Tôi hét lên giữa cái hoang vắng của buổi chiều. Bóng ma cũng hét to rồi chạy xa, tay vẫn cầm cây đuốc. Tôi ngồi dậy nhìn bóng ma thì ra là chị trong chiếc áo trắng. Cây đuốc chính là bó nhang đang đỏ cháy trong gió chiều. Tôi chạy theo chị về nơi mộ mẹ. Lúc ấy chị đang bàng hoàng hoảng hốt vì không thấy tôi, tưởng ai bắt mất hay ma thu vào bụi cây.

Bó nhang thắp từ nhà ông trùm cháy trong gió đã hơn một nửa. Chị cúi xuống cắm vào mộ đất bên cạnh những chân nhang cũ đã phai màu. Cắm nhang xong mà chị vẫn ở trong tư thế ấy một lúc lâu trong khi tà áo theo gió bay cùng chiều với khói hương. Chị quay về phía tôi nói:
"Chị khấn mẹ rồi đấy! em lạy mẹ đi, em xin mẹ tối nay mẹ về cho chị nằm mơ thấy mẹ về, em lạy mẹ đi".

Tôi thấy chị tôi khóc. Tuy chỉ có hai chị em trên đồi vắng, tôi thấy chị thẹn, lấy tà áo chùi mắt nói bâng quơ: “Khói nhang làm chị chảy nước mắt”. Khói nhang đâu?! gió bạt khói đi mất, bay là là ngang mặt đất. Tôi chấp tay trên ngực lâm râm khấn nguyện trước khi ra về.

Nắng chiều còn sót lại trên tà áo trắng và chiếu óng ánh trên nón lá bóng dầu rái chị cầm tay và tay kia nắm tay tôi. Thỉnh thoảng hai chị em ngừng lại vì bó cây tôi kẹp nách sụt lên sụt xuống. Đường đất mịn như phấn hoa trời rải xuống; những đôi chân nhỏ in lên chầm chậm như buổi chiều. Lần nào đi thăm mộ cũng đi trong im lặng. Im lặng như những khe nước nhỏ mà trong chạy qua các khu mồ mả với những bụi dứa gai xanh chai trong mùa hạ khô ráo.

Sau khi băng qua ngọn đồi, chúng tôi đến con đường cái đã hư nát từ lâu và không xe cộ. Bắt đầu có nhà cửa lưa thưa, đôi cảnh chùa tịch mịch, cây cối nhiều hơn. Đến một ngã ba đường chị ngừng lại. Tôi đặt bó cây xuống đất và ngồi lên như nệm êm. Đường rất vắng; chẳng ai nói gì. Mặt chị buồn lại, ra vẻ muốn khóc. Tôi chả dám hỏi mà cứ nhìn mãi đằng xa ngõ mà chúng tôi sẽ không đi khi về nhà, tưởng tượng như nó đưa đến một vùng xa lạ ngoài vòng tay của người chị bên cạnh.

See the source image
mồ mã quanh Ngự Bình nay đã đi dời khá nhiều

"Cách đây gần chín năm, chị nói, ở ngã ba đường nầy chị đã bồng em trên tay vái mẹ lần cuối trước khi mẹ chôn xuống đất. Đây, ngã ba nầy". Nói xong chị cầm tay tôi kéo dậy đi về kẻo tối.

Huế trong tang lễ có phần tế đạo trung, cúng ở ở ngã ba đường. Quan tài được hạ ngay giữa trục lộ. Giờ nầy ý nghĩ của nó tôi chưa hiểu; nhưng có điều chắc là nhờ nó mà phu đám được nghỉ sau một đoạn đường gánh nặng. Đối với gia đình có lẽ để níu kéo thời gian bên dưới và bên trên mặt đất. Tiếng chiêng tiếng mõ vang lên bên những câu kinh tụng kinh tán; thân nhân quì lạy theo nghi thức do các nhà sư điều khiển.
Chị cho biết lúc ấy tôi chưa được một tuổi, bà vú ẳm tôi theo đám tang. Nhưng trong các lễ ở mộ hay giữa đường, vì là ngoại tộc, vú không thể ắm tôi đến lạy trước vong hồn của mẹ; chị phải bế trong đôi tay nhỏ bé. Những lúc nghiêng mình trước quan tài mẹ, chị như sẵn sàng thả tuột đứa em xuống đất.

Cầm tay tôi đi được mấy bước, chị ngừng ngay giữa ngã ba đường, nơi trước đây đặt đám tang tế lễ, rồi quay lưng về đoạn đường vừa đi. Theo tôi, chị nhớ lại đám tang ngày nào đi qua đấy. Đúng rồi, bao giờ chị cũng dẫn tôi đi và về một lối, không rẽ ngõ khác dù khẩn cấp, đi theo con đường đám ma của mẹ.

See the source image
bông xanh cùng ngũ sắc và sim tím khắp các cồn mồ



Một hôm tôi chạy từ ngoài ngõ vào bếp, vừa chạy vừa gọi: "chị ơi". Chị đang bực mình vì bếp lửa nhen chưa cháy mà nồi gạo đã vo sẵn. Mặc kệ, tôi kéo bừa chị ra cỗng.
"Chị ra đây nhanh lên, nhanh lên kẻo đi mất".
"Cái gì thế?"
"Cái đám ma, chị nói cho em nghe đám ma của mẹ có như thế nầy không?”

Chị không còn bực tức mà trông buồn lắm. Tôi thả tay ra thì chị nắm tay tôi. Hai chị em đứng lặng thinh. Đám tang đi qua, chị quay vào nhà, tôi đi theo tận bếp. Chị nói:
" Thì cũng vậy. Mà lớn hơn, đông hơn. Hồi ấy cha danh vọng lắm; mẹ chết cha bỏ hết công việc. Có khác là không thấy ai bồng một đứa bé như em hồi đó".

Đám tang trên theo cung cách đặc biệt của xứ Huế. Một phần chưa có lệ đưa đám bằng xe hơi, một phần ai cũng thích kiểu đưa đám bằng cách gánh với một số phu đám lực lưỡng với sắc phục riêng, đứng đầu là một ông lão đi thụt lùi, lưng thắc dung vải đỏ, tay cầm đôi sanh gõ nhịp điều khiển bằng những khẩu lệnh riêng. Người đó gọi là chấp lệnh. Chỉ có yên lặng trừ tiếng sanh và lệnh truyền.

Hai thân gỗ lớn, chạm hình rồng sơn son thếp vàng chịu cho một khung đám lung linh với các nghi môn mà màu chính là vàng. Khung cửa hẹp có màn che vén qua một bên để lộ cái hòm sơn đỏ với các cây đèn cầy màu trắng bên trên. Bảy cây đèn xếp theo hình Đại Hùng Tinh (hệ thống Bắc Đẩu) mà dân gian gọi là sao bánh lái. Nhưng xếp ngược, tượng trưng việc xếp bánh lái ngừng nghỉ như người chết ngừng nghỉ cuộc sống.

Nói một ông lão dẫn đầu, nghĩa là dẫn đầu phu đám. Thật ra đi đầu là một tràng phan ghi chữ Hán móc vào đầu một cây tre nhỏ bên trên còn chút lá xanh, theo sau bởi một hương án. Tràng phan bằng vải phất phơ như một linh hồn còn đâu đó bên trong hay bên ngoài cái hòm hay vương vấn lòng người đi tiễn về vùng núi đồi trên kia.
Tôi hỏi chị đám tang mẹ có cái phan ấy không, chị đáp:
"Có chứ, quan trọng nhất, linh hồn của mẹ nằm trong đó, sao lại không. Nhà nghèo làm bằng giấy. Hỏi mãi hỏi hoài".
Trước đó mấy hôm khi theo cha cắt xén hàng rào chè tàu, tôi cũng thấy một đám ma đi qua, tôi định hỏi như hỏi chị hôm nay nhưng không dám. Cha đứng trên cái ghế thấp, hai tay cầm cái kéo lớn gần bằng mình tôi, chăm chú cắt những nhánh chè tàu chỉa ra như hàm râu. Lá chè rụng xanh cả lối vào. Tôi thấy rất xa cha vì cái mặt đăm chiêu bao giờ cũng suy nghĩ và đang lo một cái gì. Thế giới của cha không phải là thế giới của trẻ thơ. Thế giới của tôi là vòng tay của chị.

Sau khi mẹ chết, cha bỏ hết mọi chuyện ngoài đời, bỏ ngang, lui về sống với chút tiền bạc tích lũy từ trước; sống với cái vốn học thức của mình. Cha học chữ Hán qua khỏi cấp cử nhân trong chế độ thi cử của triều đình Huế. Khi Quốc Tử Giám đóng cửa, cha học tiếng Pháp và ra Hà Nội học kinh doanh. Với cái chết đột ngột của mẹ, cha rất buồn và tìm đọc văn chương Pháp nhờ vốn ngoại ngữ sẵn có.

Rồi một sáng, một nhà tu trẻ trong chiếc áo nâu đến thăm, tay cầm một cuốn sách chữ Hán nhờ cha đọc và dịch. Bọn tôi không biết sách gì mà chỉ biết sau đó cha không ăn cơm tuy vẫn ngồi ở đầu bàn như thường lệ. Trưa đó cha không ngủ mà lục lọi trong tủ tìm ra một miếng đá, dày bằng hộp diêm, to bằng nửa tờ giấy. Cha bảo chị đem ra thau nước, ngồi xuống rửa sạch bụi. Tôi đứng xem, thấy một miếng đá xám có vân trắng, có mặt khuyết cạn và ở góc có chỗ trũng sâu. Cha lấy khăn chùi sạch rồi để miếng đá bóng loáng lên bàn.

Cha lại đi tìm cái gì nữa. Chừng 10 phút sau, cha bảo chị qua bên kia cầu nhà chú Bốn người Tàu bán thuốc bắc xin viên mực xạ và mượn vài cây bút lông. Hai chị em đi và đem về số đồ vật cha muốn có.
Lúc đó tôi mới biết phiến đá là nghiên mực. Cha lấy ra mấy tờ giấy rồi viết chữ Tàu to nhỏ trên xuống và phải qua. Viết xong cha ngã lưng vào ghế, mắt lim dim. Lát sau cha gọi chị: "Con qua chú Bốn lần nữa mượn cái hộp son đỏ". Đoạn cha vào tủ lục lọi nữa.

Tôi lại theo chị qua tiệm thuốc bắc, đem về cái hộp bằng sừng hay bằng ngà to bằng hộp diêm. Cha đã đứng sẵn ở cửa tay cầm một cái gì to bằng ngón tay trắng ngà. Cầm hộp son, cha đến ngay bàn mở ra, rồi lấy cái ống trăng trắng ấy chấm vào rồi đóng lên tờ giấy có chữ Tàu mới viết. Hồi nãy tôi biết bút nghiên là gì, bây giờ biết thêm triện son là gì.

Cha đi vào chỗ bàn thờ, đặt tờ giấy xuống trông rất ngượng ngập rồi đi ra ngay. Sau nầy tôi thấy cái ngượng ngập ấy như cái ngượng ngập khi tặng người yêu đôi vầng thơ vụng dại. Lúc ấy tôi không biết cái gì; thấy chữ Tàu tôi nghĩ như những sớ điệp viết trên tờ giấy vàng rất lớn mà các nhà sư quỳ xuống đọc khi tụng kinh cầu siêu hay khi kỵ mẹ. Lớn lên, tôi đoan chắc đó là một bài thơ viết tặng mẹ, mẹ đã chết từ bao giờ. Cha tôi làm thơ!

Sự xuất hiện của nhà sư trẻ làm cha nhớ kho Hán học. Cha thích viết chữ Tàu trên những tờ giấy vàng nhạt, tờ nầy qua tờ nọ. Cha lại thích uống trà. Những bộ tách trà trong tủ kính đem ra sử dụng thường ngày. Chị nay có thêm việc mới là ướp trà. Cha dạy chị ướp trà sói, trà lài v.v.... Còn tường vi thì hái bỏ ngay vào bình uống tươi. Có lần chị bỏ trà vào hoa sen nở trong bể cạn rồi túm miệng lại, vào nhà nấu nước rồi trở ra lấy. Ngoài ra chị còn học cách tỉa thủy tiên ngày Tết, những củ thủy tiên như củ hành tây. Từ dạo ấy cha không mặc áo quần tây nữa. Chị xếp những áo veste, áo gilet, ca vạt... vào tủ. Cha mặc áo lam hay áo nâu như các đạo sĩ, trầm ngâm bên án thư. Thế giới của cha xa vời tuy tôi thường theo chị hầu cha như ướp trà, pha trà hay mài mực...

Lại một ông khách trẻ đến thăm làm thay đổi đời sống của cha. Vào một chiều, một người khá trẻ đi cùng vợ tự giới thiệu là con của người bạn học với cha ở Hà Nội. Cha đem những tờ giấy vàng nhạt đầy chữ viết cho xem. Ông khách bảo mình tây học không biết chữ Hán nên mượn về cho bố đọc. Hai ngày sau cặp vợ chồng ấy trở lại, mang theo mấy cuộn giấy cứng, mấy cây thước dẹp, một số dụng cụ văn phòng đối với tôi rất lạ. Sau một hồi nói chuyện, cha gọi chị đem ra một bộ áo quần tây, một đôi giày. Mặc áo quần xong, cha đi mãi tới chiều mới về.

Thấy cha về, bọn tôi rất mừng vì trưa nay lần đầu tiên cha không ăn cơm nhà. Từ ngoài đi vào, cha cầm cây bút chì vẽ trong không trung, dáng suy nghĩ, đi thẳng vào bàn lấy khoanh giấy ra, vẽ rất say sưa. Tôi chẳng biết là gì, sao cứ thấy sợ hãi, cha xa mình quá. Tôi hỏi chị cha làm gì thì được biết vẽ kiểu nhà. Hồi học ở Hà Nội tuy theo ngành kinh doanh, cha có khiếu về kiến trúc, đã viết rất nhiều về bộ môn nầy, cũng như đã sửa một số đồ án. Ông bạn cũ biết khả năng nên muốn nhờ vẽ nhà cho người con tức là ông khách tây học nói trên.

Cha bỏ hẵn lối ăn mặc nâu lam, trở về các bộ áo quần tây và thường bỏ ăn trưa. Bàn cha làm việc đầy bút chì, thước, quanh chỗ ngồi là những ống giấy dựng vào tường như một tiệm sách. Cha cũng đem về nhà những cuốn sách chữ Pháp in hình rất đẹp. Lúc cha đi vắng, hai chị em lấy xuống, trải chiếu ngồi xem chỉ chỏ cái nầy cái nọ.

Vào một trưa cha về lần đầu tiên không có cây bút chỉ trong tay. Lần nầy là một cây bút lông rất lớn. Ca bảo chị đem cái thau nhỏ múc một phần ba nước. Cha cầm hai hay ba viên mực Tàu bẻ nhỏ quẳng vào. Cha đến bàn, kéo lơi cái cà vạt, dáng ưu tư như mỗi khi viết chữ Tàu. Cha đứng dậy cầm cái thau mực và cây bút vào bàn thờ và bảo chị đem ra một cái ghế thấp. Tôi đi theo.

Bàn thờ là một khu vực bao quanh bởi ba bức tường và phía trước bởi một bức mành tre thưa. Ở giữa mành vẽ một chữ thọ tròn màu vàng cùng hai con rồng lớn. Bức tường đối diện với mành the có vẽ qui phụng và các loại hoa trang trí khác. Hai bức tường kia chỉ sơn vôi trắng. Trưa ấy cha viết trên hai bức tường nầy những dòng chữ Tàu lớn cũng trên xuống và từ phải qua như trên những tờ giấy vàng nhạt, có khác là không có triện son.

Cha lui ra ngồi ở bàn. Chị pha ấm trà đem lên để nhẹ rồi đi xa. Chị vào bàn thờ lấy cái thau và cây bút lông đi rửa và giao tôi nhiệm vụ cất cái ghế cha đứng viết trên cao.

Nhân đó tôi đứng trên ghế nhìn xem trên bàn thờ có những gì. Từ trước tôi chỉ biết nơi đó có cái gì linh thiêng; lạy mẹ thì cứ đứng ngoài chắp tay lên ngực; thấy người lớn chưng dọn lên đấy thức cúng và trái cây. Lần nầy tôi thấy bức ảnh của mẹ lộng kính, phủ bởi một khăn đỏ viền vàng đã cũ. Tôi lấy cái khăn ra khỏi ảnh. Tôi nhìn rất kỹ thấy có nhiều nét giống chị. Tôi lấy khăn phủ lại và đem cái ghế đi. Tôi tìm ngay chị để so sánh có thật giống như ảnh mẹ không; quả giống tuy có nhiều nét giống cha. Giá như tôi đã xem hình mẹ trước khi đi thăm mộ lần kia tôi đã không hét lên vì không tìm được mẹ khi chị đi vào nhà kia đốt nhang và đã không té nhào làm chị hoảng sợ.

Sau lần viết trên tường, cha ở nhà thường hơn tuy vẫn tiếp tục công việc với các cây bút chì. Tôi không thấy cha viết trên các tờ giấy vàng nhưng nhiều buổi sáng, cái nghiên đá có dấu mài mực còn tươi; có lẽ vào giờ khuya khi tôi ngủ, cha viết tức là làm thơ.

Chinese calligraphy
chữ Tàu và triện son


Khoảng gần một năm sau, ngủ dậy tôi thấy cha đã ngồi ở bàn, mặc áo lam. Trên bàn không còn bút chì, thước, giấy cứng. Cái nghiên đá dằn lên một xấp giấy vàng dày cộm. Chị đem bình trà lên. Cha không nói gì mà nhìn chị rất lâu rồi cúi đầu. Tôi nhìn chị, chị rất giống mẹ. Cha ngẩng đầu quay qua chỗ chị đứng, vẫy tay gọi:
"Hôm nay ăn gì? Này con, chiều nay nấu ăn như thường. Con nấu bữa cơm chay cúng mẹ rồi đem xuống ăn. Cúng sớm một chút".


Hôm đó cha đi dạo trong vườn, lui tới nhiều lần cạnh hàng dậu chè tàu cắt gọn. Cha không viết vẽ gì mà trông thản nhiên; tôi không còn cảm giác sợ hãi. Vì vậy tôi không theo chị ra chợ mà ở nhà. Trưa ấy, ăn cơm xong cha ngủ trưa. Tôi lại ở trong bếp giúp chị nấu bữa cơm chay.

Khi nắng chiều còn nhiều, mọi việc đã xong. Chị đưa cổ cúng lên bàn mời cha vào cúng. Cha đứng rất lâu bên trong phía trái; phía phải là hai chị em tôi. Một bầu không khí bùi ngùi. Khi cây nhang gần cháy hết, cha bảo chị xuống bếp gắp mấy cục thang đỏ vào cái lò trầm nho nhỏ. Cha đến bàn lấy thỏi trầm nhỏ bằng ngón tay bỏ vào, rồi dùng tay quạt cho trầm cháy. Trầm hương tỏa ra cả nhà rất ấm cúng; mà cũng ngậm ngùi lắm.

Cha trở lui bàn, cầm xấp giấy vàng dưới cái nghiên đá, đến bàn thờ đưa cả xấp mồi cháy nơi cây đèn cầy rồi đốt trong cái chuông đồng ở phía phần thờ Phật.

Chiều hôm ấy, một chiều ăn cơm chay.

Cha đã chuẩn bị rồi chăng? Hai hôm sau như một định mệnh, cha chết trong một tai nạn khi đi xem người ta xây cất một ngôi nhà lầu do cha vẽ kiểu. Chị lên trường nội trú đón hai anh về chịu trang. Từ đó chị đảm trách mọi việc. Hai anh không đi nội trú nữa.

Từ khi cha chết, tôi thấy gần cha và nhớ nhất những phút đăm chiêu của cha. Càng ngày tôi càng thấy thích thú nét đặc biệt đó: ngồi thừ ở án thư không màng cơm nước. Càng thích khi hiểu những suy tư ấy dành cho mẹ. Tôi vẫn tin cha tìm gặp nơi chị những nét mặt của người vợ chết đột ngột như cha chết đột ngột trong một tai nạn đơn giản.
Mẹ mất từ hồi nào tôi không biết, tôi không thắc mắc; chỉ biết mẹ nơi chị, chị còn đó. Nhưng cha chết, tôi cứ suy nghĩ mãi về cuộc đời của cha nhất là các suy tư dành cho mẹ. Giá như cha không đốt những tờ giấy vàng, tôi đã học chữ Hán hay nhờ người dịch để biết những ý nghĩ sau những dòng mục đen. Chị thì chất phát, suốt ngày lo cho cha và em; hai anh học nội trú, còn tôi quá nhỏ nên không ai biết cha giao dịch với ai để tìm hiểu; ngoài ra khi mẹ mất, cha bỏ hết các công việc ngoài xã hội.
Ngày kỵ đầu, một người bạn của cha đến cúng, giải thích cho chị hai bài thơ viết trên tường. (Chị nói lại về sau). Ý nói cha buồn vì chưa làm gì cho mẹ mà mẹ đã chết; khuây khỏa trong việc vẽ kiểu nhà cho người ta, thì biết mình không xây được nhà cho vợ. Chúng tôi chỉ nghe thế thôi, không ai biết chữ Hán. Có lẽ hôm đốt những tờ giấy vàng, cha quên cạo những chữ trên tường.

Sau một thời gian vào Nam học và làm việc, tôi trở về Huế trong một dịp công tác. Tình cờ tôi ghé ở lại nhà một người quen. (Gia đình tôi anh em đã đi lính trú đóng tại các tỉnh và lập gia đình tại chỗ, chị tôi lấy chồng xa, ngôi nhà cũ đã bán từ lâu). Tối hôm ấy trời mưa, cái mưa quen thuộc của xứ Huế nhưng mới lạ với tôi sau thời gian dài xa thành phố nầy. Tôi ngủ không được; chủ nhà cũng thức uống café. Nhà có một tủ sách rất lớn với những cuốn sách dày cộm nhưng thiếu ánh sáng, như bỏ quên.
Tôi tò mò đến xem thì ở ngăn cao nhất có một tập rất lớn, to bằng tờ nhật báo. Đó là những họa đồ của ngôi nhà tôi đang trọ. Ký ước về cha làm tôi mang cả tập ra phòng khách xem cho rõ. Ngạc nhiên dưới một chữ ký có đề tên cha, kèm thêm mấy chữ "kiến trúc sư tài tử" bằng tiếng Pháp. Ở gần kề có một chữ ký khác, của một kiến trúc sư kèm con dấu. Bên dưới là chữ ký của một người Pháp thuộc cơ quan công chánh.
Tôi không hiểu thể lệ thời Pháp thuộc về các công trình xây cất. Nhưng tôi vẫn tin rằng họa đồ nầy do cha thiết lập nhưng để được ty công chánh chấp thuận, phải đệ nạp bởi một kiến trúc sư hành nghề hợp pháp.
Theo diễn dịch riêng của tôi, đây là tác phẩm của cha, vẽ như vẽ nhà cho người vợ, tuy trên thực tế là nhà người ta. Vẽ với tâm hồn, như viết một tập thơ.

Tôi đến đã tối nên không thể nhìn tổng quát ngôi nhà cũng như không thể đi khắp bên trong. Tôi chăm chú xem các bản vẽ chi tiết. Cùng với các đường nét trong phòng tôi đang ngồi, sơ khởi đồ án ấy cho biết một dung hòa giữa hai lối kiến trúc đông và tây; phối hợp sự tiện nghi và nét nhu mì.

Sáng hôm sau tôi nói rõ ai vẽ nhà nầy và xin ông bạn cho phép xem ngôi nhà tỉ mỉ hơn. Việc nầy cũng đưa đến nhận xét dung hòa nói trên. Trong mưa phùn xứ Huế, tôi đứng ở hành lang tưởng nhớ khuôn mặt của cha khi ngồi vẽ các họa đồ, tưởng nhớ những tách trà chị pha. Cái vườn cũng có hàng chè tàu tuy không cổ kính như nhà cũ, nó ăn tiệp với các đường nét hoa viên Tàu và Tây.

Sau tách café đen đậm và mấy điếu thuốc Bastos, tôi từ biệt anh bạn. Chủ nhà tiễn tôi đến cỗng. Tôi ngập ngừng và ngậm ngùi ngõ ý mượn họa đồ chụp giữ một bản kỷ niệm và nghiên cứu thêm.
Chủ nhà đồng ý và điện thoại cho ty điền địa, cơ quan duy nhất có máy chụp lớn. Chẳng may máy hư. Tôi nằn nì cho tôi đem đi Saigon tháng sau đem trả. Chủ nhà không chịu:
"Gia bảo anh ạ. Nếu máy in được tôi cũng phải đi theo anh chụp rồi đem về. Thôi để lần sau."

Trưa hôm ấy tôi ra phi trương vào Nam. (Ít lâu sau là tết Mậu Thân, cái Tết oan khiên cho thành phố trầm lặng nầy; ngôi nhà nầy trúng đạn cháy sạch. Nhà nầy không có lầu, nghĩa là cha không chết ở đây).

Xe tòa tỉnh đưa tôi về sân bay trong mưa phùn. Con đường qua An Cựu, qua Dạ Lê thật buồn tênh. Gió lạnh lắm, cái lạnh để thấy cái nóng của Saigon sau mấy giờ bay. Gần quận Hương Thủy, xe tôi ngừng lại nhường cho một đám cưới nhà quê đi qua, ngay khi tôi đang tưởng nhớ cảnh chị pha trà cho cha ngồi viết hay vẽ.

Cái đám cưới! Mà đám cưới nào chẳng có cô dâu, một người con gái như những người con gái khác trong đó có chị tôi, hình ảnh của mẹ. Ngồi trên xe, tôi rụt cổ lại, hai tay kéo cao cố áo khoác, tôi cúi mặt xuống gầm xe không dám nhìn đoàn người mặc áo màu trước mắt. Cái đám cưới. Chị tôi đi lấy chồng xa, lâu lắm tôi không gặp mà thư từ cũng thưa.

Tôi đến phi trường đúng giờ nhưng máy bay trễ. Mưa rất ít, mưa phùn, mưa lạnh lắm, lạnh sẽ mất ở Saigon sau chuyến bay. Ruột gan tôi bị đảo lộn bởi cái đám cưới kia. Tôi mong máy bay đến gấp đem tôi đi khỏi mãnh đất của ray rức, của thời gian, cho tôi xin cái xô bồ của Saigon.

May quá, con chim sắt chỉ trễ nửa giờ. Tôi ngã người ngủ trong chiếc ghế nệm êm và thức dậy trong cái nhà cha vẽ kiểu. Tôi đoan chắc mấy năm về trước, khi ngồi vẽ nhà nầy, cha vẫn thấy mẹ đang ngồi trước cây bút chì. Cha vẽ một ngôi nhà cho mẹ, mẹ đã mất.

Kiểu nhà ấy nói lên một dung hòa trong kiến trúc như cuộc đời cha dung hòa trong tính tính, dung hòa giữa Hán học và Tây học. Một dung hòa giữa đời sống xã hội có danh vọng và một nét bút mực Tàu tặng người vợ đã chết, còn sót lại vài nét nơi đứa con gái. Cha buồn đã không làm gì cho mẹ như nói trong bài thơ trên tường. Tâm cảm ấy có thể đã dày vò cha cho đến hai ngày trước khi chết, thản nhiên đi lại trong vườn chờ đến chiều cúng mẹ bữa cơm chay cuối cùng.

Phần tôi, tôi không nghĩ cha đã không làm gì cho mẹ. Tuy mẹ mất từ lâu tôi không biết, tôi đoán cha đã đem cho mẹ một sự dung hợp, căn cứ vào những dung hợp nói trên. Một dung hợp giữa xã hội thời ấy đòi hỏi người vợ như một công cụ của gia đình và tình thương xây dựng bởi một mẫu người phóng khoáng và có chút tây học. Nếu cha đã bất nhân với mẹ thì cần gì có lối sống bất thường như vậy. Cha có thể lấy vợ khác, mẹ đã chết rồi mà. Cha có thể làm việc ấy khi mẹ còn sống vì luật pháp và phong tục thời ấy chấp nhận đa thê.

See the source image
Ninh  Hòa (thuộc Khánh Hòa, Nha Trang)


Những suy nghĩ về ngôi nhà làm tôi quên đường bay nhồi lên xuống. Tôi thấy êm ả và yên ôn với ý nghĩ cha đã làm cho mẹ cái gì êm ả. Từ đáy sâu của lòng mình vẫn dội lên những giây phút sợ hãi. Cái sợ ấy làm tôi thấy mình nhỏ lại đang sống trong vòng tay của chị, bên cạnh cái đăm chiêu của cha.

Tôi hoảng sợ, nhìn qua bên trái mới biết từ Huế, người ngồi bên cạnh là một thiếu nữ rất đẹp, có thể đang làm việc ở tòa tỉnh. Tôi hỏi:
"Bây giờ ngang đâu rồi cô".
"Thưa không biết nhưng bên dưới là bờ biển".
" Nha Trang đó" tôi nói với tất cả chắc chắn.
"Sao ông biết, ông có nhìn xuống đâu mà biết".
"Tôi biết chứ. Nha Trang, bờ biển Ninh Hòa đấy, chị tôi ở đấy, chị tôi lấy chồng lính ở đấy đã lâu".

Cô ta nhìn tôi một cách lạ lùng, có lẽ cho tôi điên rồi. Tôi thấy ngượng, mà thôi giải thích làm gì. Tôi giờ nầy vẫn sống trong vòng tay của chị, người chị là mẹ và có nét giống mẹ. Tôi đã mất đi cảm giác sợ cha mới trổi dậy lúc nãy với ý nghĩ chị đang ở bên bờ biển Nha Trang. Tôi ngã người ra lưng ghế êm nhắm mắt ngủ.

Và tôi ngủ ven bờ biển dưới kia nơi có chị đang sống với nhà chồng. Người chị ấy, người chị có vòng tay rộng lớn hơn vũ trụ của tôi, người làm chủ không gian tâm cảm của tôi, người mẹ thực sự từ khi cha chết.-

Vuong Tuyet Nga's photo.





Saturday, September 8, 2018

vợ Việt chồng Hàn

Khi mới gặp lại, hai vợ chồng Uyển định gọi tôi sang Seoul chơi một lần cho biết. Tôi chưa được đi Hàn Quốc nhưng biết có lẽ mình sẽ không bao giờ bay qua bên đó hay qua một nước khác xa xôi kể từ lúc bấy giờ. Bởi mấy năm nay già yếu, nên khi vừa nghĩ đến cảnh ngồi lên máy bay là tôi liền cảm thấy ngộp thở. 
Chợt nghĩ, chuyến đi xa cuối cùng của tôi có lẽ sẽ là đi thẳng ra sông Sài Gòn. Tôi có dặn các con khi nào tôi ra đi chơi thực sự thì hãy đốt hết trơn và thả tro xuống sông Sài Gòn… cho nó nhanh và rẻ, cho trọn một kiếp người chuyên mặc xà lỏn, xi líp nhảy từ nắp xà lan này sang nắp xà lan khác đã mấy chục năm nay. Cuộc đời tôi không được sang trọng giống mấy người Hàn Quốc như anh Kim hay giống người có chồng nước ngoài như Uyển. Cuộc đời tôi mấy chục năm rồi ít khi được áo quần tề chỉnh, cuộc đời tôi chuyên mặc mấy món xàlỏn-xilíp-xúchiên. Hôm đó, ba người chúng tôi đang ngồi uống cà phê bên quận Một, nghe tôi hò xà-xi-xú như vậy Uyển liền bật cười: Nghe anh nói sao sến sến giống một bản vọng cổ dưới quê ghê đi. Sau những năm tháng xa nhau biền biệt, những người trong quá khứ chúng tôi đã được ngồi bên nhau nhiều lần suốt hai năm nay, không biết đó là vui đoàn viên hay ngỡ ngàng gặp lại. Hai năm trước, khi gặp lại vợ chồng họ và cảm nhận được những điều không vui vẻ không an lạc giữa hai người đó, tôi nói: Cứ tưởng chừng như ai đó đau khổ, cứ tưởng chừng như ai đó hạnh phúc, cuối cùng xem trong bản thân của bất cứ ai đó cũng chỉ là những hư vô. Anh Kim lúc này làm ăn hay dạy học lúc ở Seoul, lúc ở Bangkok, có lúc ghé sang Sài Gòn… để thăm vợ và ba đứa con, khi nghe tôi nói vậy liền góp vài câu diễu cợt: Cứ tưởng chừng như ai đó được, cứ tưởng chừng như ai đó mất, cuối cùng ai đó cũng chẳng là ai. Từ lúc gặp lại hai người đó, tôi có cảm giác rất nhạt nhẽo khi nghe những câu chuyện Hàn-Việt oái oăm mà anh Kim hay kể, thí dụ như: Người đàn bà dân tộc Mèo còn trẻ tuổi quê ở Hà Giang đã có chồng ở Việt Nam mà anh tình cờ gặp được ở một cái chùa lớn bên Hàn. Lúc ấy cô gái Mèo này hết sức hoang mang, cô độc… vì bị chồng Hàn đuổi ra khỏi nhà phải lang thang lên chùa xin tá túc.
Chồng Việt của cô người Mèo này mất vì nghiện nặng ở Hà Giang. Hai năm sau khi chồng mất, qua môi giới cô ta kết hôn được với một người thanh niên Hàn quốc trẻ. Sang Seoul được hai tháng thì phải ra tòa ly dị vì người chồng phát hiện cô ta đã có chồng ở Việt Nam, mà người chồng cũ ấy lại chết vì bệnh nghiện ma túy.
Anh chồng người Hàn của cô gái người Mèo, khi ra tòa, nói với quan tòa rằng anh ta rất ghê sợ bệnh Sida, anh ta nghi ngờ vợ mình đã nhiễm Sida từ người chồng cũ. Quan tòa hỏi: Vậy từ khi cô ấy qua Hàn Quốc, anh có chăn gối thường ngày với cô này chưa? Anh ta lấp liếm: Hình như có chút đỉnh.
Anh Kim phân tích thêm: Nhưng nguyên nhân sâu xa nhất của việc ly dị này không phải là sợ Sida, mà là vì người đàn ông Hàn quốc ít khi muốn lấy một người đàn bà đã có chồng, mà là vì cái quan niệm “trinh tiết” đối với họ vẫn còn quan trọng lắm. Họ chỉ muốn kết hôn với người con gái nào còn “origin”. Khi khám phá vợ mình không còn trinh tiết họ sẽ kiếm mọi cách để ly hôn.
Anh Kim tiếp: Cứ tưởng chừng như đàn ông Nhật giống đàn ông Hàn, té ra không phải. Người đàn ông Nhật không bao giờ quan tâm đến quá khứ của vợ, họ không màng vợ họ ngày trước đời sống tình cảm ra sao, có gia đình chưa, bồ bịch nhiều không. Họ chỉ quan tâm đến hạnh phúc hiện tại. Người Nhật không ghen với quá khứ, có người kết hôn cả chục lần và cuối đời vẫn sống hạnh phúc. Nhưng người đàn ông Việt và người đàn ông Hàn thì khác, họ ưa ghen với quá khứ của vợ mình.


Image may contain: tree, plant, outdoor and nature
vườn Huế

Tôi hỏi lại: Anh cũng hay ghen tuông giống vậy à? Kim đáp không buồn cũng không vui: Ngày đó tôi yêu Uyển lắm, mà lấy được Uyển rồi tôi lại luôn có cảm giác mình đã giật vợ của người khác. Tôi không nghĩ tới chuyện “origin”, tôi quen biết cả hai vợ chồng Uyển lâu rồi mà. Tôi chỉ tiếc sao mình không phải là người chồng đầu tiên của Uyển. Tôi cũng tiếc nuối thứ tình cảm kéo dài hai mươi mấy năm bỗng một ngày tan vỡ.

Anh Kim kể chuyện cô gái người Mèo cho vợ là Uyển nghe một lần, hai lần rồi ba lần. Lần thứ tư thì Uyển phát chán: Thôi, đừng kể chuyện đó nữa, nói chuyện khác đi. Kim làm như không nghe thấy lời phàn nàn của vợ, cứ tiếp tục: Dù cho em có rớt vô hoàn cảnh như người đàn bà dân tộc Mèo đó tôi vẫn không thể xa em, tôi không thể thiếu em được nữa rồi. Với lại chúng ta đã có ba con.

Kim đau khổ kể lại với tôi là Uyển không hề cảm động chút nào về câu nói đó, cô cứ nhắc mãi với chồng tới chuyện bao giờ có thể ly hôn. Sau hai mươi năm sống với nhau và có ba đứa con, Uyển không còn yêu Kim được nữa hay từ trước tới giờ cô không hề yêu chồng. Hồi xưa đó, cô chỉ cần lấy một ông chồng nước ngoài để thoát ra khỏi một Sài Gòn u ám cách đây hai mươi mấy năm. Hồi đó, Uyển cũng đã có một anh chồng người Việt, nhưng có lẽ anh này cũng u ám như cái không khí bao chung quanh anh ta nên Uyển không chịu nổi mà phải bỏ Sài Gòn đi theo anh Kim.

Tôi có vị trí khá đặc biệt, tôi quen biết Uyển và anh chồng người Việt từ khi chúng tôi còn học chung trường. Ra trường, ba người chúng tôi mỗi người một việc ít liên lạc với nhau. Tôi tình cờ cũng thành bạn làm ăn của anh Kim, một người Hàn Quốc đẹp trai sang Việt Nam đi học tiếng Việt và tập làm ăn buôn bán vào những năm 1990. Anh Kim lớn hơn ba người bạn Việt chúng tôi gần con giáp.

Đám cưới của Uyển với anh chồng đầu tiên người Việt vào năm 1988 tôi có đến dự, tôi nói với họ: Hôm nay là ngày mình rất buồn hai người có biết không? Tôi còn nhớ mãi anh chồng người Việt cà khịa nói: Trong cuộc đua bao giờ cũng có kẻ thắng người thua, mày buồn cái gì? Chắc tôi say nên bảo: Tôi có dám đua với anh đâu nào?

Uyển chắc cũng uống say nên không dấu diếm cái cảm giác hết sức chua chát mệt mỏi của mình: Đua cái gì mà đua, mấy anh đang chơi trò mèo bắt chuột, chuột thì chỉ có một con nên sẽ có con mèo thua. Chỉ tội con chuột cái, từ đây nó sẽ phải phục dịch con mèo thắng, nó phải chui rúc hết chỗ này tới chỗ kia kiếm miếng ăn để đem về nhà nuôi con mèo đực.

Người chồng Việt của Uyển ngày đó khá lười, anh ta không làm gì hết kể từ ngày bước chân ra khỏi trường. Chưa lấy nhau nhưng sống già nhân ngãi non vợ chồng, Uyển đã phải tần tảo làm hết việc này việc kia để nuôi anh ta. Cô có lần nói với tôi: Tiền kiếm được em chia cho anh ta phân nửa, phân nửa còn lại đi chợ nấu ăn chung. Tôi hỏi: Chia cho anh ta lắm tiền thế để làm gì? Uyển thở dài: Để anh ta đủ tiền uống rượu và thù tiếp bạn bè.



một cô gái Mèo, Hà Giang

Còn anh ta có lần nói với tôi: Tao không thể chịu nổi cảnh đi làm việc trong công sở hay trong nhà máy, tao không thể làm đầy tớ cho mấy thằng ngu, tao thà ở nhà thất nghiệp vợ nuôi. Với lại đi làm mà không chấm mút tham nhũng thì làm sao đủ tiền nuôi vợ con, thế là lại dơ bẩn. Nghĩ tới chuyện đi làm lính cho mấy thằng ngu là tao muốn chửi thề. Thôi ở nhà ngủ vùi cho nó khỏe.

Lấy nhau xong… Uyển vẫn tần tảo làm đủ thứ việc kiếm cơm nuôi anh chồng làm biếng như ngày chưa cưới chồng. Khi thì đi dạy kèm, khi thì xin đi dạy chính thức, tối có khi làm yaourt bỏ mối…

Một hôm hồi xa xưa đó, thấy Uyển bơ phờ chạy xe đạp trên đường, tôi chặn lại mà thở dài: Bỏ chồng đi em, thấy em khổ sở anh rất xót xa mà cũng oán hận sự hèn nhát của chính anh ngày trước. Ai đời vợ làm việc như con trâu trong khi chồng chỉ biết nằm ngủ và đi nhậu? Uyển chua chát: Cái gì đến thì sẽ đến, anh không cần phải quan tâm. Ngày nào đó có ai tốt hơn đến với em, chỉ cần nói thương em mà không quan tâm chuyện em đã có chồng, chắc chắn em sẽ chọn người đó và bỏ hẵn anh chồng làm biếng.

Nói như thật, mấy năm sau trong lúc lao đao tuyệt vọng Uyển gặp anh Kim rồi ly dị anh chồng Việt. May mắn Uyển chưa có con với anh chồng làm biếng. Biến đi một khoảng thời gian rất dài tôi không gặp cặp vợ Việt chồng Hàn vì hai người dắt nhau về Seoul sinh sống làm ăn, sinh con đẻ cái bên đó. Hai người đã tìm cách đi học tiếp và sau đó vừa đi dạy học, vừa kinh doanh, vừa nghiên cứu, nhưng có điều…

Hai năm trước gặp lại, biết có một cái gì đã đổ vỡ giữa anh Kim và Uyển, tôi nói với Uyển: Anh Kim rất tốt, tốt hơn những người đàn ông Việt và Hàn mà anh từng được gặp. Rõ ràng anh ta tốt hơn người chồng cũ làm biếng của em. Anh ta không thô lỗ như nhiều người Hàn Quốc lấy vợ Việt, chắc anh ta thuộc con nhà có ăn học đàng hoàng.

Anh Kim làm nghề kinh doanh rồi dạy học thêm bên Hàn, vừa là nhà nghiên cứu đầu ngành về lịch sử Đông Nam Á bên đó. Còn có lần hỏi Uyển đang làm gì và đang sống nhiều ở đâu giữa Sài Gòn hay Seoul, cô ấy trả lời tôi: Em làm thinh mọi lúc mọi nơi.

Mấy lần nghe anh Kim kể đi kể lại chuyện người đàn bà Mèo lấy chồng Hàn, tôi cười: Tôi cũng nghe vợ anh nói chuyện đó với tôi mấy lần rồi, hình như vợ anh còn phàn nàn với anh “Thôi, đừng kể chuyện đó nữa, nói chuyện khác đi” phải không? Anh Kim không khó chịu chút nào, chỉ tỏ vẻ buồn phiền: Thế mới biết, vợ tôi cũng đã kể câu chuyện nhàm chán đó cho rất nhiều người bạn nghe rồi. Thế mới biết, cô ta không còn thích thú nghe tôi nói chuyện như cách đây hai mươi năm, cô ấy thích nói chuyện với những người khác hơn tôi.

Hình như Uyển hay nói với nhiều người nữa chứ không phải với riêng tôi là cô đang chán ngán cuộc sống với một anh chồng người Hàn Quốc già cổi và ưa lải nhải lắm rồi. Mà thế giới đổi thay, con người đổi thay, biết đâu tôi cũng đang chán ngán một “cái tôi” già cổi của chính tôi lắm rồi mà mình không chịu nhận rõ ra.

Vào buổi hoàng hôn chập choạng, có những cái mà mình cảm thấy thích vào buổi ban mai tới buổi chiều bỗng thấy vô duyên lạ, cũng như cách đây ba mươi mấy năm khi thấy Uyển cận thị xanh xao ốm yếu trong sân trường Văn Khoa tâm trạng tôi luôn thấy nao nao, mỗi ngày không thấy Uyển đi học tôi lo như phát sốt…

Ngày xưa đó một hôm biết chuyện của tôi, Uyển hỏi tôi: Anh đang lo lắng cho mấy người trong trường giống như em vậy? Tôi phì cười: Ba hay bốn cô cận thị gì đó anh không nhớ rõ, anh đang trong thời đói meo nên thấy ai cũng ngon cũng đẹp cũng đáng yêu, miễn là có đeo kính cận cho nó ra vẻ trí thức. Uyển cũng cười: Được như vậy em cũng sẽ không còn lo lắng khi nói cho anh biết rằng em đang thương người khác chớ không phải thương có mình anh. Tôi lại đùa: Có bao nhiêu người khác vậy?


Image may contain: 3 people, people smiling
Marie Curie, Saigon, 197...

Nói chung, thời đi học tôi để ý tới một Uyển xanh xao thơ mộng nhiều lắm. Nhưng… Cách đây hai năm, khi gặp lại Uyển và anh Kim, thấy Uyển tròn trịa trong bộ áo quần xúng xính, tôi buộc miệng than: Sao lúc này em mập thế? Uyển đớp chát: Hết yêu nổi em rồi phải không? Nhưng em không hề ngạc nhiên. Thời gian có thể thay đổi tất cả, những cái gì mình thích mình cần lúc ngày xưa có khi bây giờ mình không cần và mình rất ghét.

Tôi lén nhìn và thoáng thấy nét đau đớn trên khuôn mặt đẹp lão của anh Kim… tôi biết ngay đã có cái gì đó đổ vỡ giữa hai người rồi. Mà thú thực, tôi không hề vui khi thấy điều tan vỡ đó.

Một lần khác anh Kim hỏi tôi: Anh còn nhớ câu chuyện cô gái trẻ người Mèo quê ở Hà Giang không? Tôi hửng hờ: Sao, có gì mới hả?
Anh Kim: Tôi giúp cho cô ấy xuống tóc xin đi tu chính thức trong chùa ở Incheon rồi. Tôi: Sao anh quan tâm quá vậy? Anh Kim: Thấy tội nghiệp cô ấy từ lúc mới gặp ở chùa nên tôi theo dõi người ta mãi. Hồi đó cô này không biết tiếng Hàn nên khó khăn giao tiếp lắm, tôi thì biết tiếng Việt nên giúp cô ta chuyện này chuyện khác. Hồi đó bị đuổi khỏi nhà chồng nên cô ấy lang thang lên chùa, tôi gặp cô ta ở đó.

Tôi lại hỏi: Có khi nào cô ấy chỉ đi tu một thời gian rồi bỏ tu không? Anh Kim: Không, chắc là đi tu luôn rồi đó. Mà chuyện cũng đơn giản thôi… Sau khi được tôi giới thiệu, cô người Mèo được sư trụ trì nhận làm tạp vụ trong chùa. Một hôm có nhà sư Việt nào đó qua bên này thuyết giảng, nghe xong thuyết pháp cô gái ấy khóc năm ngày năm đêm rồi quyết chí đi tu suốt đời.
Tôi hửng hờ: Ông sư nào mà tài giỏi quá vậy, bài thuyết pháp đó tên gì vậy? Anh Kim mau mắn: Tên ông sư dù đang nổi tiếng nhưng dài quá nên tôi quên mất rồi, tôi chỉ nhớ bài thuyết pháp đó có tên là Bóng Mây.

Tối hôm đó ở Sài Gòn tôi đi tìm kiếm bài thuyết pháp Bóng Mây trên mạng. Trong tâm thức ưa xét nét của một người học văn chương, khi nghe hết xong tôi thấy bài thuyết pháp đó không có gì hay và sâu sắc lắm như anh Kim nói, chỉ có điều nhà sư trẻ tuổi này có tài nói chuyện khá lôi cuốn và có duyên thu hút được mấy cô gái Việt thuộc lớp người nông thôn bình dân đang hết sức cô đơn vì đang bị ganh ghét hay ruồng bỏ bên xứ người giống như cô gái dân tộc Mèo kia.

Nhà sư này nói giọng miền Tây ấm áp… thỉnh thoảng lại biết pha trò một cách hiền hòa, mà trong cuộc sống của những người đàn bà Việt xa xứ cô đơn ở bên Hàn người ta đang rất thiếu vắng những tiếng cười ấm áp thân thiện ủi an từ những người đồng hương tử tế. Mỗi ngày qua, bọn họ đang sống trong sự ghẻ lạnh của một xã hội mà họ chưa kịp làm quen. Nhiều người không biết nói tiếng Hàn, cái trở ngại ngôn ngữ ấy càng làm họ khó khăn hòa nhập.

Tôi có nói lại cái cảm giác, cảm thụ văn chương của riêng tôi khi nghe bài thuyết pháp Bóng Mây này với Uyển: Anh thấy tội nghiệp cho cô gái người Mèo đó quá, chỉ nghe một bài thuyết pháp khá bình dị như vậy thôi cũng đã là một niềm an ủi hạnh phúc lớn lao, tạo ra được một ngã rẽ cuộc đời. Mà không biết cô ấy suy nghĩ có đúng hay không, hay chỉ vì một phút động lòng do cô đơn trống vắng lâu ngày, tình cờ gặp được một người đồng hương tử tế an ủi mình mà đã đi đến một quyết định vội vàng.

Uyển bảo cô cũng nghe qua bài thuyết pháp Bóng Mây lâu rồi và cũng có những cảm xúc về văn chương giống y như tôi, nhưng rồi Uyển trầm tư: Giống như nhạc bolero, khi nào mình rớt vào đúng hoàn cảnh bi lụy của bài hát đó thì mình sẽ thấy nó đau đớn thiết tha, khi mình không rớt vào đúng hoàn cảnh đó thì mình sẽ chê nó sến. Anh là đàn ông và sống đời đơn giản ở Việt Nam, chúng em lấy chồng sang đây như rớt vào một cái hố xoáy của hai nên văn hóa khác biệt, những cư xử ghẻ lạnh của người Hàn bên xứ lạ thường làm chúng em bị tổn thương sâu sắc. Có một người đồng hương sang Hàn thuyết giảng cho mình nghe, dù người đó là một nhà sư hay một linh mục, nếu họ biết nói một cách tử tế thân thiện sự an ủi của Phật hay của Chúa đối với cuộc đời lấy chồng xa xứ bẽ bàng của chúng em, thì chúng em sẽ biết ơn vô cùng anh à.

Có lần tôi nói với anh Kim: Bóng Mây… hình như đời ai cũng có bóng mây, nên cô gái dân tộc Mèo kia khóc năm ngày năm đêm trước khi đi đến quyết định bỏ tất cả để đi tu suốt cuộc đời sau khi thấy và biết được cái bóng mây của đời mình anh có biết không?

Anh Kim: Bóng Mây còn là sự xung khắc giữa hai nền văn hóa Hàn và Việt. Hai mươi năm nay vì hoàn cảnh đói khổ nhiều người đàn bà miền quê Việt Nam đã sang Hàn Quốc lấy chồng. Trong con mắt của gia đình chồng họ thường là những người nghèo đói ít học kém văn hóa phải tha phương cầu thực bằng cách kiếm chồng kiếm tiền ở bên Hàn, sau đó có dư chút đỉnh thì gởi tiền về quê phụ giúp gia đình. Những người đàn bà Việt dù ít học ngu dốt hay quê mùa cách mấy cũng biết rõ sự rẻ rúng của gia đình chồng và những người hàng xóm bên Hàn đối với họ. Họ hận lắm…

Anh Kim tiếp: Những người Việt bên Hàn thường tìm cách lãng quên sự rẻ rúng khinh thường của xã hội Hàn Quốc đối với họ bằng tôn giáo, bằng cách siêng năng đi chùa và tìm quên trong kinh kệ. Có mấy chùa lớn bên này người Việt góp tiền lập riêng một khu nhỏ để tiếp đón nuôi ăn miễn phí những người Việt cô đơn bị ruồng bỏ, những người Việt không có giấy tờ nhập cư hay đi lao động chui… Những người quan tâm tới người Việt xa xứ như tôi hay vợ tôi thường đi đến những ngôi chùa này để tìm cách giúp đỡ họ.

Bỗng anh Kim thở dài… Nhưng rồi, một hôm đi chùa Uyển nói với tôi: Anh dù có tốt cách mấy cũng không làm em quên được cái ánh mắt ghẻ lạnh của gia đình anh khi em mới sang đây. Cũng may em không phải lên chùa mà sống, cũng may em không bị anh đuổi ra khỏi nhà như cô gái Mèo kia.

Uyển có nói thêm với tôi: Bên đó, mỗi khi lên chùa em vẫn tìm cách nói chuyện riêng với cô gái Mèo này. Một hôm cô gái ấy nói: Chồng của bà thật tốt, ông ấy giúp đỡ tôi nhiều lắm. Ngày tôi bị đuổi ra khỏi nhà lang thang lên đây vì không biết tiếng Hàn nên không biết ăn nói làm sao để người ta cho ở lại Cửa Phật thì ông ấy tình cờ đi chùa nên nhận giúp đỡ tôi. Nhờ ông ấy mà sư trụ trì cho tôi ở lại đây làm công quả, tới giờ tôi có biết nói tiếng Hàn đâu, tôi dốt lắm bà à.

Tôi thở dài: Vậy mà sao em cứ đòi ly dị anh Kim, anh ấy quá tốt đi chớ? Uyển cũng thở dài: Em quyết định hết rồi, em về lại bên này còn ba đứa con em sẽ tiếp tục qua lại bên đó học hành. Chúng nó sẽ sống với cha, anh Kim sẽ không cô đơn đâu… Chỉ tốt bụng không chưa đủ anh à, còn nhiều cái khác nữa để hai người có thể đến với nhau và mãi mãi bên nhau. Thú thực với anh hai mươi năm nay em đã cố gắng yêu nhưng không thể yêu chồng dù biết chồng rất yêu mình. Có phải đó là vì hai nền tảng văn hóa cũng như quá khứ của chúng em quá khác biệt?
Người cô đơn mãi mãi chính là em. Về bên này em cũng sẽ cô đơn nhưng có một Sài Gòn dù còn rất u ám nhưng là thứ quá khứ thân thuộc luôn ở bên cạnh để làm bạn. Nếu em ở lại bên kia, vì xa lạ vì cô đơn em cũng sẽ lên chùa và có khi giống như cô gái Mèo kia, một hôm thấy được Bóng Mây em sẽ cạo trọc đầu xin đi tu mãi mãi.

Tôi hỏi: Em có còn một chút cảm tình nào với người chồng Việt hay không? Anh nghĩ thời gian trôi đi, em cũng bỏ đi, anh ta chắc đã có những thay đổi tốt đẹp nào đó rồi? Em có liên lạc thường xuyên với anh ta hay không? Hay vì sợ người chồng Hàn buồn mà em cắt đứt dây chuông? Rồi ngập ngừng tôi hỏi tiếp: Chuyện ly dị với anh Kim và quay lại Sài Gòn có liên quan gì tới người chồng cũ hay không?

Uyển: Không, cái gì chết thì đã chết. Tình yêu đã hết là tình yêu đã chết, không còn gì nữa đâu, có muốn đào lên tình yêu cũng không hề sống lại. Sự nhẫn nhục chịu đựng bất công của người đàn bà trong gia đình lâu ngày biến tình yêu đầu tiên thành nỗi căm phẫn oán ghét cho tới chết. Ở Việt Nam cũng vậy mà ở xứ người cũng thế, cứ mỗi lần nhớ tới những ngày trẻ lao đao nuôi chồng ở không tại Sài Gòn là em lại oán em: Sao hồi đó mày ngu thế?

Uyển kết luận tình cảnh bên Hàn: Chúng em không thể quên được sự tổn thương mà em phải chịu những ngày mới qua Hàn. Cũng như cô gái dân tộc Mèo có lần nói với em: Chồng bà thật tốt, nhưng dù ông ấy có giúp đỡ tôi nhiều cách mấy đi nữa thì tôi vẫn không thể quên chuỗi ngày tuyệt vọng khi bị người ta đuổi ra đường vào một ngày mùa đông giá lạnh.

Mà thôi, hãy xem đó là một bóng mây.

Sài Gòn, ngày 13 tháng 08 năm 2016



A-Celebration-of-Women-Feature-Banner-e1352628808407 (1) 512

Mấy lời vụng về, ttt
Có lần tôi đã nhắc lại ý kiến của một người khác nói rằng tiểu thuyết lắm khi làm mình hiểu lịch sử nhiều hơn là sử ký, ông nêu trường hợp Chiến Tranh và Hòa Bình của Leon Tolstoy. Đem điều nầy vào trường hợp "Bóng Mây Trên Chùa" thì quá lớn. Mượn chút xíu thôi, bài nầy với một đề tài đã có cả không biết bao nhiêu lần nói tới dưới nhiều hình thức, chuyện gái Việt lấy chồng Cò Ria, nhưng thiển nghĩ nó cho mình ý niệm rõ ràng hơn như Nhà Mẹ Lê của Thạch Lam cho thấy sự cùng tận của cảnh nghèo. Không mắc mớ gì phải hỏi chuyện thật hay hư, nhưng lối viết có khác hơn lối "nhiếp ảnh", như Nguyễn Đức Lập có nói với chính tôi ông viết lại như ống kính. Nơi đây, tác giả hay đúng hơn là người kể chuyện (narrator) cho thấy chính mình cũng tham dự vào điều gọi là trùng trùng duyên khởi. Thấy Uyển mặt mày xanh xao trên chiếc xe đạp cũ tần tão nuôi chồng nhậu nhẹt, "tôi" đã phải nói thẳng với nàng rằng "tôi" tự trách không can đảm đưa nàng vào vòng tay che chở của "tôi".
Thiếu nữ người Mèo làm tôi nhớ đến Ikeda Daihatsu, chủ tịch hội cư sĩ Nhật kể chuyện một thiếu phụ Nhật đã tự tử vì nghèo nhưng nhật ký cho biết vì không chịu được sự cô đơn; do đó nếu bà đã gặp một hội viên cùng khai mở năng lực nội tâm thì đời sẽ khác và có khi giàu có hơn. Ông Kim đã đưa cô Mèo qua một khúc quanh, không hiểu "issue" của cô có được giải quyết tận cùng hay không. Cứ như trong bài, cô và Uyển không bao giờ quên những mối hận thù.
Mấy ông thiền đạo mạo sẽ đến khuyên giải xóa bỏ hận thù. Ôi cô Mèo của tôi! Cô Mèo và cả thế hệ cha mẹ sinh ra và lớn lên trong vùng lấy hận thù làm sức mạnh chính trị gây bao nhiêu tội ác, nay người ta lấy cái xóa bỏ buông bỏ bô bô trong miệng của lũ tu hành giả hiệu để làm bài thuốc an thần "chiến tranh chính trị"; sử gia đầy tớ sẽ ghi đây là thời hưng thịnh của Phật Giáo, đá xẻ đôi ghi những khẩu hiệu suông.
Mong cô Mèo và cả Uyển thấy được chân nguyên, trầm luân gãy cánh với thời gian, tránh xa cái loa đầu ngõ, quán niệm một khúc nhạc vũ trụ thần bí, mà nhạc cụ có bọng đàn là khóm trúc, dây đàn vắt vẻo núi cheo leo, bàn tay ngọc là móng chân con cú vọ.-


No comments: Links to this post