Nhóm 1% QGHC - Thông tin nội bộ QGHC Tỵ Nạn Hải Ngoại. Thiết lập từ 2008- Email Liên Lạc: cnguyqghc@gmail.com
Showing posts with label VoHoangAn. Show all posts
Showing posts with label VoHoangAn. Show all posts

Thursday, December 23, 2010

BÀI KINH CỦA ÔNG "ĐẠO KHÓM" RẠCH GIÁ

***Giữ BY/QGHC:
Tựa "đạo khóm" là để đùa 1 chút thôi với Võ Hoàng Ân, có thời phục vụ tại thị xã Rạch Giá trước 1975. Mà Rạch Giá- Kiên Giang là đất địa có nhiều KHÓM nhứt của Hậu Giang.

Nội dung bài viết thì HIỀN HOÀ- ĐẠO HẠNH perfectly!....

Có điều, phải chi VIỆT CỘNG mà chúng nó chịu nghe Võ Hoàng Ân, chịu áp dụng VÀI CHỮ RAO GIẢNG (*chỉ cần vài chữ thôi!) trong bài nầy thì 86 triệu dân mình sẽ BỚT ĐAU KHỔ TRIỀN MIÊN ngay ! Và Ông ĐẠO KHÓM VÕ HOÀNG ÂN sẽ đắc đạo tức khắc; chứ không cần chờ TU THÊM 8 KIẾP NỮA mới được NỐI NGÔI PHẬT !!!./- Giữ BY/QGHC

Tiếng Nói Tình Yêu
Bạn thân mến,


1) Khóa 17 ĐSHC của bọn mình thật là đặc-biệt, Khóa của những người sinh đúng mốc nửa thế-kỷ 20 (1950). Những người mà nếu sự học hành suông sẻ thì "tú tài Mậu Thân, cử nhân Nhâm Tý"; do biến cố Tết Mậu Thân 68 và Mùa Hè Đỏ Lửa 72 mà rất nhiều thí sinh được vớt điểm để thi đậu. Cái đặc cách này còn dài dài; số sinh viên dự tuyển cho khóa 17 đột nhiên được tăng từ 100 đến 250 để chuẩn-bị cho cuộc cách-mạng hành-chánh năm 1973. Và đến cột mốc lịch-sử của cõi Ta bà năm 1975, thời kỳ đột khởi kỷ nguyên vi tính, những "con người ưu tú đặc cách" đó vừa tròn 25 tuổi, tràn đầy hùng lực!
2) Năng lực đó dầu trải nghiệm nơi các trại cải-tạo hay ở miền đất nước Hoa Kỳ đều là những "thắng duyên" cho sự nẩy mầm của tuệ giác văn-hóa tâm linh nơi những con người được tuyển chọn.


- Những thanh-niên nam nữ Việt Nam sinh 1950 về "nhân duyên" rất là thù thắng. Các "tăng thượng duyên" lại càng đặc-biệt. Tâm hồn tràn ngập âm thanh mầu nhiệm của nhạc Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, những hào khí ngất trời Quách Tĩnh, Kiều Phong, Đoàn Dự, Lệnh Hồ Xung. Những con người của nền tảng Nho-Lão-Thích mà thần tượng là Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Hồ Hữu Tường, Nhất Hạnh,...
- Yếu tố "đẳng vô-gián duyên" cũng là đặc-biệt, toàn là "đốn nhập". Một Trần Bạch Thu làm Phó tỉnh trưởng năm 24 tuổi, bao nhiêu người mới 23 tuổi làm Trưởng ty, Chánh sở và ở tù cũng có Trương Văn Anh gần 20 năm. Thật không có khóa nào như vậy!
- Còn yếu tố "sở duyên duyên" thì sao? Có khi nào ở năm 2000, ở tuổi "ngũ thập tri thiên mệnh", chúng ta nhìn lại và tự vấn về sự có mặt của mình trong cuộc đời vì một "thiên mệnh" nào không? Để có bằng cấp, để có những tài khoản ngân hàng, nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con ngoan hay còn có sứ mệnh nào khác mà khi được tuyển chọn cho đi "đầu thai" hiện hữu đã giao phó!
3) Mang vận mệnh của một đất nước nằm ở vị thế địa dư đặc-biệt, vì vị thế này mà "1000 năm đô hộ giặc Tàu, 100 đô hộ giặc Tây, 20 năm nội chiến từng ngày", chúng ta đã uống trọn cả nền văn-hóa Ấn - Hoa làm căn bản, lại có cơ hội thử nghiệm các chủ nghĩa tư bản, cộng sản, các hình thái văn minh kỹ thuật, thì chắc không phải chỉ để sản sinh ra các khoa học - kỹ thuật gia, tài chánh - kinh tế gia, các tu hành gia khuôn sáo,...
- Cái năng lực của hiện hữu có thể gọi là "Hóa công" không giao cho chúng ta nhiệm vụ đó. Hãy để người Mỹ, người Âu, Trung quốc, Ấn độ, Nhật v.v...làm việc đó !
4) Đau khổ của chúng ta quá lớn, đã xúc tác cho các "yếu tố tứ duyên" trở nên quá đặc thù hẳn là chỉ sản sinh một nền văn minh văn hóa dẫn đạo cho một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của "tình yêu" mà người Việt Nam gọi là "nguyên Di Lặc" (thời đại của tình thương).


- Những tâm hồn đã uống trọn nhạc Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, thơ Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Phạm Thiên Thư v.v...Những tâm hồn ngất ngây hào khí của Quách Tĩnh - Hoàng Dung, Kiều Phong - A Tử, Lệnh Hồ Xung - Doanh Doanh...Những tâm linh dung hợp tuyệt diệu Nho - Lão - Thích, một tinh thần viên dung nhất quán, nguyên thủy - đại thừa dung thông vô ngại, tam giáo quy nguyên...đó phải "yết đế, yết đế". Phải vượt qua tỵ hiềm của bản ngã nhỏ nhen, những cố chấp biên kiến, kiến thủ, giới thủ kiến để cho sứ mệnh khởi động nguồn tuệ giác tình yêu dẫn đạo cho kỷ nguyên mới có cơ hội hiển lộ.
5) Bạn ơi! Đến tuổi này mình mới thấm hiểu phần nào huyền thoại Âu-Lạc con rồng cháu tiên. Một dân tộc nhuần thấm Phật pháp từ bi và trí tuệ, lãng đãng hào khí phiêu bồng Lão Trang, tinh thần khuôn phép lễ nhạc Nho gia. Rồi nào là hiện sinh của Sartre, Camus, Krishnamurti, văn hóa tổng hợp Hoa Kỳ, nền chuyên chính cộng sản... Dân tộc đó đang đủ sức nở hoa thành trí tuệ ánh sáng phương Đông như các nhà tiên tri đông - tây đã huyền ký:
- Bảo giang thiên tử xuất Bất chiến tự nhiên thành. - Hiệu xưng Thiên hạ thái bình, Đông tây vô sự Nam thành quốc gia.
6) Về Phật giáo cũng vậy - do vị thế địa dư đặc-biệt, Phật giáo Việt Nam nhuần thấm viên dung từ nguyên thủy đến đại thừa, có Nam truyền - Bắc truyền, có Mật - Tịnh - Thiền viên dung nhất quán và đặc-biệt là đang có những vượt thoát diễn tả Phật pháp bằng tiếng nói thời đại, vận dụng giáo lý tĩnh thức vào lòng cuộc sống, cập nhật bản thể luận - mục đích luận - phương pháp luận Phật giáo (cảnh - hành - quả) vào hiện thực. Hành giả bây giờ hiểu cụ thể Phật pháp là gì, dùng tri kiến khoa học để hiểu Phật nói gì và nhận ngay phải sống thế nào để có hạnh phúc. Các yếu chỉ của kinh điển nguyên thủy và đại thừa không còn trừu tượng nữa mà thật rõ ràng như đức Phật nói là ta thấy hiện hữu rõ như đang thấy trái xoài trong lòng bàn tay!


7) Bạn ơi, mình thấy sự nhỏ bé vô cùng của mình trong vũ trụ và thấy sự mênh mông vô tận của pháp giới nên tỏ rõ sự huyền diệu của cuộc sống. Và rồi mình thấy thật là vụn vặt những tri kiến hý luận mà mình tưởng là sự thật duy nhất. Mình phải có khả năng buông bỏ "vô kỷ, vô công, vô danh" mới đi xa hơn được. Thật là cao cả! "chân nhân vô kỷ, thánh nhân vô công, chí nhân vô danh" như hạc vàng bay không trở lại:
"Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ Về đồi sim tôi nhớ người vô bờ"8) Năm nay bọn mình đã 60 rồi, đang cận kề cái chết:
"Thân ta nào có gì đâu! Chỉ một chỗ đứng trên quả địa cầu. Trăm năm nào có là bao! Như cỏ khâu như là bóng câu. Vậy sao ta không xích lại gần nhau Và xóa bỏ hận thù, Để nói tiếng thương yêu!"
- Chúng ta còn bao thì giờ để quanh quẩn trong những hý luận về tri thức? Cỡ nào đi nữa thì cũng như Tôn hành giả trong lòng bàn tay Phật mà thôi!
"- Kẻ nào còn ôm ấp tư kiến, xem nhận thức của mình là cao nhất thế gian, cho rằng kiến giải này là tối thượng, kẻ ấy được xem là chưa thoát khỏi vòng tranh chấp...- Bậc thức giả là kẻ không còn tư kiến đối với những gì mình thấy, nghe và cảm nhận. Làm sao còn có thể phê phán hoặc nắm bắt được bằng khái niệm một bậc hành giả thanh tịnh đã từ bỏ mọi tư kiến... - Bậc ấy quả không còn nhu yếu thiết lập một giáo điều hoặc chọn lựa một ý thức hệ. Mọi giáo điều và ý thức hệ đều đã được bậc ấy buông bỏ..." (Kinh Sự thật đích thật)


9) Hỡi những người con của sự đặc cách! Năm 1970, mới năm thứ hai mà chúng ta đã được "ân sủng triều đình" lãnh lương tham sự. Ra trường được bổ nhiệm đủ mọi bộ ngành, trải nghiệm đủ các hoàn cảnh từ Á - Âu sang Mỹ - Úc. Dầu ở đâu, chúng ta đừng quên "thiên mệnh của mình". Hồi đó chúng ta mơ giấc mộng "tu thân - tề gia - trị quốc bình thiên hạ":
"Trong lăng miếu ra tài lương đốngNgoài biên thùy rạch mũi can tươngLàm sao cho bách thế lưu phươngTrước là sĩ sau là khanh tướng!Kinh luân khởi tâm thượngBinh giáp tàng hung trungVũ trụ chi gian giai phận sựNam nhi đáo thử thị hào hùng"
10) Chúng ta hẳn là đã có cơ duyên từ nhiều kiếp thì đừng quên vận hội hiện tại và vị lai, đừng nghĩ là chỉ có đời này: "Đã có cơ duyên từ vô thỉ Ta còn gặp thuở vô chung"


Được hân hạnh làm người Việt Nam, được đặc cách vào thành phần "người ưu tú", nói theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, chúng ta phải vượt thắng những nhỏ nhen của bản ngã. Đóa hoa lòng của chúng ta phải vượt giới hạn của cá nhân, gia đình - quốc gia - chủng tộc để nẩy nở trọn vẹn trong lòng hiện hữu!
- Phải vượt qua chính mình, sự hiện hữu của những người con đặc cách không phải để có một bằng cấp, một sự thành đạt cá nhân nào mà là chúng ta phải nói lên được tiếng nói của tình thương: "Lấy chí nhân thay cường bạo Dùng đại nghĩa thắng hung tàn!"Dân tộc Việt Nam không phải dẫn đạo thế giới bằng kỹ thuật vi tính - thiên văn khoa học, y học gì đâu mà phải là sự ưu việt về nhân cách tâm linh.- Cái tình yêu mà chúng ta muốn chứng tỏ đã được thử nghiệm bằng xương máu, nó phải vượt lên phàm tình nhân thế để nẩy nở toàn vẹn thành bông hoa của ánh sáng trí tuệ (Án ma ni bát di hồng)11) Nghe nói các bạn định tổ chức Đại hội kỷ niệm 40 năm ra trường (1972 - 2012). Lại là một cột mốc lịch sử thế giới Ta bà. Chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra và ta có thể dự được hay không vì lý do nào đó!


Vậy thì hãy xóa bỏ những giận hờn, những hàng rào ngăn cách, chung sức chung lòng đóng góp tùy khả năng mình vào sự kiện chung đó cho thật là hoàn hảo. Thì cũng là xứng đáng và vui vẻ lắm rồi. Phải không bạn mình!

Võ Hoàng Ân
24/10/2010

Friday, November 5, 2010

ÔNG ĐẠO TỬ VI
CỦA THỊ XÃ RẠCH GIÁ TRƯỚC 30-4-75

Tiếng Nói Tình Yêu


Bạn thân mến,
1) Khóa 17 ĐSHC của bọn mình thật là đặc-biệt, Khóa của những người sinh đúng mốc nửa thế-kỷ 20 (1950). Những người mà nếu sự học hành suông sẻ thì "tú tài Mậu Thân, cử nhân Nhâm Tý"; do biến cố Tết Mậu Thân 68 và Mùa Hè Đỏ Lửa 72 mà rất nhiều thí sinh được vớt điểm để thi đậu. Cái đặc cách này còn dài dài; số sinh viên dự tuyển cho khóa 17 đột nhiên được tăng từ 100 đến 250 để chuẩn-bị cho cuộc cách-mạng hành-chánh năm 1973. Và đến cột mốc lịch-sử của cõi Ta bà năm 1975, thời kỳ đột khởi kỷ nguyên vi tính, những "con người ưu tú đặc cách" đó vừa tròn 25 tuổi, tràn đầy hùng lực!


2) Năng lực đó dầu trải nghiệm nơi các trại cải-tạo hay ở miền đất nước Hoa Kỳ đều là những "thắng duyên" cho sự nẩy mầm của tuệ giác văn-hóa tâm linh nơi những con người được tuyển chọn.
- Những thanh-niên nam nữ Việt Nam sinh 1950 về "nhân duyên" rất là thù thắng. Các "tăng thượng duyên" lại càng đặc-biệt. Tâm hồn tràn ngập âm thanh mầu nhiệm của nhạc Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, những hào khí ngất trời Quách Tĩnh, Kiều Phong, Đoàn Dự, Lệnh Hồ Xung. Những con người của nền tảng Nho-Lão-Thích mà thần tượng là Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Hồ Hữu Tường, Nhất Hạnh,...
- Yếu tố "đẳng vô-gián duyên" cũng là đặc-biệt, toàn là "đốn nhập". Một Trần Bạch Thu làm Phó tỉnh trưởng năm 24 tuổi, bao nhiêu người mới 23 tuổi làm Trưởng ty, Chánh sở và ở tù cũng có Trương Văn Anh gần 20 năm. Thật không có khóa nào như vậy!
- Còn yếu tố "sở duyên duyên" thì sao? Có khi nào ở năm 2000, ở tuổi "ngũ thập tri thiên mệnh", chúng ta nhìn lại và tự vấn về sự có mặt của mình trong cuộc đời vì một "thiên mệnh" nào không? Để có bằng cấp, để có những tài khoản ngân hàng, nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con ngoan hay còn có sứ mệnh nào khác mà khi được tuyển chọn cho đi "đầu thai" hiện hữu đã giao phó!
3) Mang vận mệnh của một đất nước nằm ở vị thế địa dư đặc-biệt, vì vị thế này mà "1000 năm đô hộ giặc Tàu, 100 đô hộ giặc Tây, 20 năm nội chiến từng ngày", chúng ta đã uống trọn cả nền văn-hóa Ấn - Hoa làm căn bản, lại có cơ hội thử nghiệm các chủ nghĩa tư bản, cộng sản, các hình thái văn minh kỹ thuật, thì chắc không phải chỉ để sản sinh ra các khoa học - kỹ thuật gia, tài chánh - kinh tế gia, các tu hành gia khuôn sáo,...
- Cái năng lực của hiện hữu có thể gọi là "Hóa công" không giao cho chúng ta nhiệm vụ đó. Hãy để người Mỹ, người Âu, Trung quốc, Ấn độ, Nhật v.v...làm việc đó !


4) Đau khổ của chúng ta quá lớn, đã xúc tác cho các "yếu tố tứ duyên" trở nên quá đặc thù hẳn là chỉ sản sinh một nền văn minh văn hóa dẫn đạo cho một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của "tình yêu" mà người Việt Nam gọi là "nguyên Di Lặc" (thời đại của tình thương).
- Những tâm hồn đã uống trọn nhạc Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, thơ Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Phạm Thiên Thư v.v...Những tâm hồn ngất ngây hào khí của Quách Tĩnh - Hoàng Dung, Kiều Phong - A Tử, Lệnh Hồ Xung - Doanh Doanh...Những tâm linh dung hợp tuyệt diệu Nho - Lão - Thích, một tinh thần viên dung nhất quán, nguyên thủy - đại thừa dung thông vô ngại, tam giáo quy nguyên...đó phải "yết đế, yết đế". Phải vượt qua tỵ hiềm của bản ngã nhỏ nhen, những cố chấp biên kiến, kiến thủ, giới thủ kiến để cho sứ mệnh khởi động nguồn tuệ giác tình yêu dẫn đạo cho kỷ nguyên mới có cơ hội hiển lộ.
5) Bạn ơi! Đến tuổi này mình mới thấm hiểu phần nào huyền thoại Âu-Lạc con rồng cháu tiên. Một dân tộc nhuần thấm Phật pháp từ bi và trí tuệ, lãng đãng hào khí phiêu bồng Lão Trang, tinh thần khuôn phép lễ nhạc Nho gia. Rồi nào là hiện sinh của Sartre, Camus, Krishnamurti, văn hóa tổng hợp Hoa Kỳ, nền chuyên chính cộng sản... Dân tộc đó đang đủ sức nở hoa thành trí tuệ ánh sáng phương Đông như các nhà tiên tri đông - tây đã huyền ký:
- Bảo giang thiên tử xuất Bất chiến tự nhiên thành. - Hiệu xưng Thiên hạ thái bình, Đông tây vô sự Nam thành quốc gia.
6) Về Phật giáo cũng vậy - do vị thế địa dư đặc-biệt, Phật giáo Việt Nam nhuần thấm viên dung từ nguyên thủy đến đại thừa, có Nam truyền - Bắc truyền, có Mật - Tịnh - Thiền viên dung nhất quán và đặc-biệt là đang có những vượt thoát diễn tả Phật pháp bằng tiếng nói thời đại, vận dụng giáo lý tĩnh thức vào lòng cuộc sống, cập nhật bản thể luận - mục đích luận - phương pháp luận Phật giáo (cảnh - hành - quả) vào hiện thực. Hành giả bây giờ hiểu cụ thể Phật pháp là gì, dùng tri kiến khoa học để hiểu Phật nói gì và nhận ngay phải sống thế nào để có hạnh phúc. Các yếu chỉ của kinh điển nguyên thủy và đại thừa không còn trừu tượng nữa mà thật rõ ràng như đức Phật nói là ta thấy hiện hữu rõ như đang thấy trái xoài trong lòng bàn tay!


7) Bạn ơi, mình thấy sự nhỏ bé vô cùng của mình trong vũ trụ và thấy sự mênh mông vô tận của pháp giới nên tỏ rõ sự huyền diệu của cuộc sống. Và rồi mình thấy thật là vụn vặt những tri kiến hý luận mà mình tưởng là sự thật duy nhất. Mình phải có khả năng buông bỏ "vô kỷ, vô công, vô danh" mới đi xa hơn được. Thật là cao cả! "chân nhân vô kỷ, thánh nhân vô công, chí nhân vô danh" như hạc vàng bay không trở lại:
"Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ Về đồi sim tôi nhớ người vô bờ"8) Năm nay bọn mình đã 60 rồi, đang cận kề cái chết:
"Thân ta nào có gì đâu! Chỉ một chỗ đứng trên quả địa cầu. Trăm năm nào có là bao! Như cỏ khâu như là bóng câu. Vậy sao ta không xích lại gần nhau Và xóa bỏ hận thù, Để nói tiếng thương yêu!"
- Chúng ta còn bao thì giờ để quanh quẩn trong những hý luận về tri thức? Cỡ nào đi nữa thì cũng như Tôn hành giả trong lòng bàn tay Phật mà thôi!
"- Kẻ nào còn ôm ấp tư kiến, xem nhận thức của mình là cao nhất thế gian, cho rằng kiến giải này là tối thượng, kẻ ấy được xem là chưa thoát khỏi vòng tranh chấp...- Bậc thức giả là kẻ không còn tư kiến đối với những gì mình thấy, nghe và cảm nhận. Làm sao còn có thể phê phán hoặc nắm bắt được bằng khái niệm một bậc hành giả thanh tịnh đã từ bỏ mọi tư kiến... - Bậc ấy quả không còn nhu yếu thiết lập một giáo điều hoặc chọn lựa một ý thức hệ. Mọi giáo điều và ý thức hệ đều đã được bậc ấy buông bỏ..." (Kinh Sự thật đích thật)
9) Hỡi những người con của sự đặc cách! Năm 1970, mới năm thứ hai mà chúng ta đã được "ân sủng triều đình" lãnh lương tham sự. Ra trường được bổ nhiệm đủ mọi bộ ngành, trải nghiệm đủ các hoàn cảnh từ Á - Âu sang Mỹ - Úc. Dầu ở đâu, chúng ta đừng quên "thiên mệnh của mình". Hồi đó chúng ta mơ giấc mộng "tu thân - tề gia - trị quốc bình thiên hạ":
"Trong lăng miếu ra tài lương đốngNgoài biên thùy rạch mũi can tươngLàm sao cho bách thế lưu phươngTrước là sĩ sau là khanh tướng!Kinh luân khởi tâm thượngBinh giáp tàng hung trungVũ trụ chi gian giai phận sựNam nhi đáo thử thị hào hùng"


10) Chúng ta hẳn là đã có cơ duyên từ nhiều kiếp thì đừng quên vận hội hiện tại và vị lai, đừng nghĩ là chỉ có đời này: "Đã có cơ duyên từ vô thỉ Ta còn gặp thuở vô chung"
Được hân hạnh làm người Việt Nam, được đặc cách vào thành phần "người ưu tú", nói theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, chúng ta phải vượt thắng những nhỏ nhen của bản ngã. Đóa hoa lòng của chúng ta phải vượt giới hạn của cá nhân, gia đình - quốc gia - chủng tộc để nẩy nở trọn vẹn trong lòng hiện hữu!
- Phải vượt qua chính mình, sự hiện hữu của những người con đặc cách không phải để có một bằng cấp, một sự thành đạt cá nhân nào mà là chúng ta phải nói lên được tiếng nói của tình thương:


"Lấy chí nhân thay cường bạo
Dùng đại nghĩa thắng hung tàn!"

Dân tộc Việt Nam không phải dẫn đạo thế giới bằng kỹ thuật vi tính - thiên văn khoa học, y học gì đâu mà phải là sự ưu việt về nhân cách tâm linh.- Cái tình yêu mà chúng ta muốn chứng tỏ đã được thử nghiệm bằng xương máu, nó phải vượt lên phàm tình nhân thế để nẩy nở toàn vẹn thành bông hoa của ánh sáng trí tuệ (Án ma ni bát di hồng)11) Nghe nói các bạn định tổ chức Đại hội kỷ niệm 40 năm ra trường (1972 - 2012). Lại là một cột mốc lịch sử thế giới Ta bà. Chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra và ta có thể dự được hay không vì lý do nào đó!


Vậy thì hãy xóa bỏ những giận hờn, những hàng rào ngăn cách, chung sức chung lòng đóng góp tùy khả năng mình vào sự kiện chung đó cho thật là hoàn hảo. Thì cũng là xứng đáng và vui vẻ lắm rồi. Phải không bạn mình!
Võ Hoàng Ân 24/10/2010

Friday, September 17, 2010

ĐÂY ÔNG ĐẠO VÕ HOÀNG ÂN
CỦA TÒA THỊ CHÍNH RẠCH GIÁ TRƯỚC 30-4-75


"BẠCH THẦY TÂM CON KHÔNG AN"
(Thân mến tặng bạn Trương văn Anh và Trần đắc Mưu)


1) Truyện kể rằng, khoảng năm 520 một tăng sĩ Ấn độ đến Trung hoa bằng đường biển. Hội kiến với Lương Vũ Đế một "hộ pháp nhân vương", thấy rằng những hạt giống tuệ giác mình định gieo trồng chưa có mảnh đất thích hạp, ngài lên phương Bắc đến ngồi đối diện vách đá một nơi trên núi Hùng nhĩ, chín năm dài chờ đợi cơ duyên:
"Nhất bát thiên gia phạnCô thân vạn lý du,Thanh mục đổ nhân thiểuVấn lộ bạch vân hầu."(Một bát, cơm ngàn nhàThân cô, ngàn dặm xa,Mắt xanh người ít biếtMây trắng hỏi đường qua.)
- Và rồi, một ngày đông lạnh, tuyết bay đầy trởi, mênh mông cô quạnh! Thầy tu Thần quang, vốn là kiếm khách giang hồ, lên núi cầu đạo: quỳ đợi mấy ngày, tuyết lên ngập gối. Tâm ngưỡng vọng của Thầy đã lên cực độ, thầy dùng kiếm tự chặt đứt một phần tay trái của mình để chứng tỏ quyết tâm:

"- Bạch thầy, TÂm con không an.
- Hãy đưa TÂM đây để ta an cho.
- Con tìm TÂM mà sao không thấy nó ở đâu.
- Vậy là ta đã AN TÂM cho ngươi rồi đó."

Và Thần quang thoát xác thành Huệ Khả, nhị tổ Thiền tông Trung hoa cũng như sau này chú tiều phu cư sĩ thoát xác thành lục tổ Huệ Năng.2) Giản dị thế sao, và như vậy là thế nào bạn nhỉ!
Bạn ơi, cảm giác đầu tiên của mình là bi hùng và tuyệt diệu. Nền tuyết trắng xóa, máu hồng loang đỏ, ghi dấu truyền kỳ, tột cùng ý chí. Mình nhớ tới một tiền thân của Phật Thích Ca chịu hiến thân xác cho quỷ la sát ăn thịt để được nghe bài kệ:

"Chư hành vô thường Thị sinh
-diệt pháp Sinh-diệt diệt dĩ Tịch diệt vi lạc."

- Ở đây câu hỏi là pháp AN TÂM nhưng được trình bày thật dễ thương vì quá chân thành và mộc mạc: "Bạch Thầy, tâm con không an!"Là một kiếm khách hải hồ rồi là một thầy tu hùng biện, thầy từng chiến thắng nhiều người bằng thanh kiếm và lời nói nhưng chưa thắng được tâm mình. Tâm viên, ý mã: tâm ý như vượn chuyền cành, như ngựa chạy rong trên thảo nguyên biết đâu là phương hướng.

3) Khi NHẤT sinh NHỊ, khi có phân biệt chủ thể - đối tượng thì phải xuất hiện cơ cấu hưởng dụng và nhận biết (tính năng của hiện hữu). Bộ ba căn-trần-thức do nghiệp xoay vần, nghiệp là "chương trình" quy định mà hệ quả là sự trình hiện vô vàn sai biệt giới tương ứng.- Bây giờ người ta biết là từ khi sinh mệnh hình thành, hệ não bộ được dẫn phát bởi một chương trình liên tục suốt thọ mạng, phát ra những tầng số rung động tương ứng vớí những trạng thái tâm lý. Nó là hòa trộn sinh lý - vật lý - tâm lý và là kết quả phức hợp của vô tận những hiện tượng, nói nhỏ thì như cực vi nguyên tử, nói lớn thì là cả thiên hà.- Nói theo Phật học thì một trạng thái hạnh phúc hay đau khổ của tâm là sự tương tác của biệt nghiệp và cộng nghiệp và sự tương tác này được diễn tả là "trùng trùng duyên khởi", các điều kiện hàng hàng lớp lớp tác động vào nhau tạo ra vô vàn cấu hình được hình dung như dòng thác đổ.

"A-đà-na thức thậm thâm tếChủng tử hằng chuyển như bộc lưu,Ngã ư phàm phu bất khai diễnKhủng bỉ phân biệt chấp vi ngã."

- Tâm nó chuyển động liên tục và chịu tác động của toàn hiện hữu thì làm sao mà AN được phải không bạn mình và thử hỏi xưa nay giàu-nghèo-sang-hèn mấy ai mà tâm được yên. Đúng là câu hỏi của muôn đời!- Trong pháp hội Lăng Nghiêm, Đức Phật hỏi về TÂM thầy A-nan bảy lần trả lời (thất xứ trưng tâm) mà Phật cũng không xác nhận gì hết vì TÂM là "chu biến", là "vô sở bất tại", là một "trường lực" mà các hiện tượng đủ duyên thì hiển hiện, hết duyên thì ẩn tàng, buồn là không vui, vui là không buồn.


4) Tất cả các tri kiến tôn giáo đều nói tới "một ân sủng của Thượng đế", một "phép lạ của sự TĨNH THỨC" đó là NIỆM: sự chú tâm. Đó là một trong năm tâm sở biệt cảnh của môn tâm học Phật giáo. Từ niệm (sự chú tâm) ta đạt tới định (sự tập trung) và tuệ (cái biết thấu suốt). Tâm sở niệm có công năng soi sáng hòa nhập vào cảm thọ và làm thay đổi tình trạng:
"Như ánh sáng mặt trờiChiếu soi loài cây cảnh,Chánh niệm khi thắp lênChuyển hóa mọi tâm hành."
- Ngũ căn ngũ lực tổng cộng là mười trong 37 phẩm trợ đạo nồng cốt trong giáo lý nhà Phật. Khi niệm-định-tuệ ăn sâu vào tâm (là căn) nó phát huy năng lực (là lực) chuyển đổi hệ thần kinh, trung hòa các độc tố trong thân, hóa giải các phiền muộn trong tâm, đưa thân-tâm hợp nhất trong trạng thái quân bình tĩnh lặng:
"Bụt là vầng trăng mátĐi ngang trời thái không,Hồ tâm chúng sinh lặngTrăng hiện bóng trong ngần."
"Quay về nương tựa Hải đảo tự thânChánh niệm là BụtSoi sáng xa gần."
Sự tĩnh thức đó là Phật tánh, Phật tâm (Phật tức tâm - tâm tức Phật)

5) "Ngươi đưa tâm đây ta an cho."Thầy Thần quang giật mình, bao năm nay mình dùng tâm nhận biết thế giới bên ngoài, tâm rong ruổi chạy theo sáu trần, theo cảm xúc thế gian mà cười đau khóc hận và không AN. Nghĩa là mình chạy theo cái bóng, cái phóng ảnh mà cho là sự thật. Bây giờ thử ngưng lại một chút, chú tâm trở về dùng cái ý thức (cái biết) nhìn ngay vào cái biết đó coi nó là gì (phản quan tự kỷ - hồi quan phản chiếu) thì sao thấy sáu trần chỉ là bóng dáng (pháp trần: lạc tạ ảnh tử, bóng dáng rơi rớt), rồi lại thấy cái nền tảng (cái môi trường) mà bóng dáng đó ảnh hiện. Hình như nó giống như tấm gương lớn tròn sáng (đại viên cảnh trí) mà trên đó sai biệt giới ảnh hiện, thuật ngữ gọi là "kiến tánh", thấy cái tướng của tâm là thể sáng chói (vô lượng quang). Nhà bác học Wheeler nói:"Vật chất không thật, chỉ là ánh sáng bị mắc bẫy." Cái bẫy đó là "nghiệp", chức năng cấu hình mọi hiện tượng.- Bạn ơi, mình quá ngưỡng mộ duyên kỳ ngộ "thầy nào trò nấy". Vị thầy thì đã 150 tuổi mà còn chống tích trượng du hành Đông độ truyền pháp đốn giáo đại thừa:
"Nhất hoa sinh ngũ diệpThuyết pháp độ mê tình."
Chín năm dài thong dong chờ đợi với một nhẫn lực tuyệt với, mình nhớ bài thơ của Trúc Lâm Điều Ngự:

"Thuở nhỏ chưa từng hiểu sắc không
Hoa xuân trăm sắc rộn tơ lòng;
Nay đà rõ mặt tuồng xoay-chuyển
Ngồi xem hoa rụng rất thong dong."

Một người trò quỳ gối chờ đợi mấy ngày, tuy tuyết rơi đầy gối nhưng có là bao so với 9 năm "im lặng sấm sét"
"Chín năm trời Đại hùngVách núi nầy chuyển rung, Ngàn năm về gang tấcSát-na đựng vô cùng."Thì cái đau của cánh tay bị chặt đứt có là gì!
- Và khi đến cái đỉnh điểm của nó, của sự bức bách tột cùng của cơ chế tự tồn (hệ kháng thể) thì năng lực của sinh mạng phát khởi trên bộ công năng của nó. Câu nói của tổ: "Vậy ngươi đem tâm ra đây ta AN cho" khi đó như tiếng sấm sét nổ trên đầu. Sấm sét của đốn giáo đại thừa! Và cái "tử công phu" nó hoạt dung liền, nguồn năng lực đó soi thẳng vào tâm thức bằng sự tập trung cao độ và hoát nhiên nhận ra các cảm giác khổ đau hay hạnh phúc, các tơ tưởng, liên tưởng, hồi tưởng, hoài niệm...gì đó chỉ là các tín hiệu ánh sáng cấu hình trên "trường" tâm thức. Mình chạy theo nó, càng bám víu thì khối phức-hợp đó càng đa dạng hơn mà thôi. Chiếu kiến thì thấy nó trống không, khi sóng ngừng thì biển lặng!- Nói giản dị thì sự chú tâm làm cầu nối, làm chất xúc tác cho sự lắng trong và tỏa sáng của tâm thức. Niệm-định-tuệ liên hoàn viên dung đưa tới sự làm chủ được cảm giác và ý tưởng. Kinh điển có nói tới tầng mức thứ chín của định là "diệt thọ - tưởng định."


6) Trong Kinh Lăng nghiêm, 25 La hán và Bồ tát trình bày cơ duyên chứng ngộ của mình thì cũng là quá trình niệm - định - tuệ (25 đối tượng chú tâm: 6 căn + 6 trần + 6 thức + 7 đại). Niệm lực bền bỉ đưa tới tập trung vững chãi dẫn đến sự thấy rõ thực tướng. và vì "vạn pháp giai không" (mọi hiện tượng đều tương quan với nhau nên thấu suốt một pháp là tỏ rõ hết thảy pháp) Ngài Tất-lăng-dà-bà-ta bị gai độc đâm chân nhân đó quán chiếu vào cội gốc của cái đau, thấy rõ tự tánh của cảm giác, hoạt nhiên đại ngộ. Kinh nói là thấy rõ tính viên thông của các pháp.- Và trong pháp hội đó, đặc biệt là Bồ tát Quán thế âm trình bày chỗ tỏ ngộ của mình do quán chiếu nhĩ căn (phản văn, văn tự tánh). Ngài trình bày lối tu qua một bài kệ thật là kỳ ảo:

"Sơ ư văn trung
Nhập lưu vong sở.
Sở nhập ký tịch,
Động-tịnh nhị tướng
Liễu nhiên bất sinh
Như thị tiệm tăng
Văn-sở văn tiệm,
Tiệm văn bất trụ,
Giác-sở giác không.
Không giác ký viên
Không-sở không diệt,
Sinh-diệt diệt dĩ
Tịch diệt hiện tiền."

Ta thấy các cặp chủ thể-đối tượng: nhập-sở nhập, văn-sở văn, giác-sở giác, không-sở không; cùng với các phạm trù tương phản: động-tịnh, sinh-diệt.
Mình có thể tạm dẫn nghĩa bài kệ như vầy:
"Ban đầu trong cái ngheLắng vào sâu quên tiếng.Chỗ vào đã yên lặngThì hai tướng động-tịnhRõ ràng là chẳng sinh.Như thế cứ tăng dầnĐến hết nghe và tiếng,Không dừng, đi sâu mãiBiết thẳng, không phân hai.Trực giác đã tròn rồiXóa phân cách ta người,Diệt và sinh tự tạiBiển hào quang phơi bày!"
Ta thấy rõ diễn trình NIỆM-ĐỊNH-TUỆ trong lời dạy cách tu của Bồ tát Quán âm.


7) "Bạch thầy, con tìm tâm mà không thấy đâu cả"
"Tam tế cầu tâm, tâm bất đắcThốn tâm mích vọng, vọng hoàn vô,Vọng nguyên vô xứ tức bồ đềThị tắc danh vi chân đạt đạo."
Ý thức tự soi chiếu lại nó (dĩ tâm quán tâm) thì các phóng ảnh tự tan rã như sương móc dưới ánh sáng mặt trời chánh niệm.
Trên bộ sự dụng công là ở đó! Vọng tình, vọng tưởng hoàn vô, vô xứ vì nó tự tan rã, và "bồ đề" tức thể tánh tĩnh lặng của tâm hiển lộ. Mộc mạc thì thấy tánh, liễu ngộ, thấy bản lai diện mục là như thế! Ngài Huệ Khả gọi là "chân đạt đạo" .- Thì ra, niệm kinh, niệm Phật, niệm chú, niệm thoại đầu công án, niệm chúa, niệm Allah là như thế! Hành giả đọc kinh thuần thục chú tâm (TỤNG NIỆM), nhớ nghĩ Phật qua danh hiệu, qua hình ảnh - hình tượng (TRÌ DANH NIỆM PHẬT, QUÁN TƯỞNG NIỆM PHẬT, QUÁN TƯỢNG NIỆM PHẬT), TRÌ TỤNG CHÂN NGÔN, QUÁN TƯỞNG CẢNH GIỚI, THAM KHÁN THOẠI ĐẦU, HỒI QUAN PHẢN CHIẾU, DĨ TÂM QUÁN TÂM,...) đều cùng mục đích dùng NIỆM làm cầu nối đưa tới ĐỊNH - TUỆ và THIỀN NA (Dhyana: định-tuệ đẳng trì) là như vậy!- Krishnamurti suốt hơn 70 năm thuyết giảng cũng là nói về sự chú tâm: từ chú tâm đơn thuần đến chú tâm hồn nhiên. Ta cũng nghĩ đến từ "anh nhi hạnh" của Đạo giáo. Vì vậy các pháp môn đều là phương tiện và phương tiện thiện xảo khi nó khế cơ. Mình hãy luôn nhớ như vậy chớ có truy cầu!
"Đã lên non pháp quên tìm báuLần lựa đi về tiếc uổng công!"


8) "THÌ NHƯ THẾ LÀ TA ĐÃ AN TÂM CHO NGƯƠI RỒI ĐÓ". Hôm đến Thiền đường Thái bình dương của Tu viện Lộc uyển, nhìn lên mình thấy hình tượng Đức Thích ca Mâu ni với hàng chữ NIỆM-ĐỊNH-TUỆ (SMRTI-SAMADHI-PRAJNA). Thật là giản dị mà đầy đủ hàm súc! Và các thầy, các sư cô, các cư sĩ ở Đại Ẩn Sơn lặng lẽ trang nghiêm thực tập chánh niệm trong mọi sinh hoạt hàng ngày.- Vua Trần Thái Tông, theo truyền thuyết Lâm tế, cũng nói là ăn cơm mặc áo, đại tiện tiểu tiện gì cũng là thiền, nghĩa là khi ta có sự chú tâm trong cuộc sống thì đó là sự thực tập thìền.


9) Tôi có một người bạn có lần hỏi Trịnh công Sơn là tại sao quá thông Phật pháp mà lại uống rượu thường như thế thì được trả lời là ông có cái cách của ông. Một người đã viết lên lời ca:
"Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già, một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua.Không còn ai, đường về ôi quá dài những đêm xa người.Chén rượu cay, một đời tôi uống hoài, trả lại từng tin vui cho nhân gian chờ đợi."
Uống rượu mà có thể kiểm soát được cảm giác và tư tưởng, không cho nó bị chất kích thích dẫn vào mê đồ sắc dục mà mượn nó làm đà phóng cho thi ca thấm đậm thân phận con người thì "NIỆM LỰC" đã hơn phàm phu nhiều lắm.- Và thế là Thần quang trở thành Huệ Khả - Tổ thứ hai Thiền tông Trung hoa. Sau đó có khi làm phụ việc trong quán ăn, có người biết được đã hỏi là tổ sư sao lại làm thế thì ngài trả lời là: "Việc của ta ta biết."


10) Bạn ơi, mình trị lao phổi suốt năm 2006, mỗi sáng sớm uống khoảng 10 viên kháng sinh thì cả ngày không ăn được gì và sữa thì không có để uống. Thế mà qua được, bạn có biết nhờ gì không?Lúc đó, mỗi trưa 1 giờ trên đài VT1 có chiếu một tập phim De Chang Kim Hàn quốc. Suốt 60 ngày, mình năn nỉ bà chủ quán cà phê Minh Châu vặn đài nầy cho mình xem. Và khi thân tâm mình bị bức bách thái quá thì cái "cơ chế tự tồn" và tùy tướng của nó là "bản năng dục ái" trỗi dậy mạnh lắm, cả hệ kháng thể khởi động toàn bộ tế bào.- Thì ra vô vàn cơ hội của hạnh phúc vẫn còn nguyên đó, vẫn còn "những con người như thế" và toàn bộ sự cao thượng của "tình yêu thăng hoa" rót vào thân tâm mình niềm hân hoan của sức sống giúp mình qua được thời gian điều trị. Nhìn mình coi phim có người nói: "Ông tu gì mà nhìn chăm bẳm vào Lee Young-ae vậy!" Tôi cười thầm nhớ tới Krihnamurti: "Khi dục vọng và khoái lạc, những yếu tố vẫn đục của tình yêu lắng xuống thì tình yêu chân thật hiển lộ. Tình yêu đó có phẩm chất của trí tuệ và từ bi."

11) Đối chiếu chuyện tìm tâm của ngài Huệ Khả theo khẩu lệnh "đốn ngộ trực chỉ" của Tổ Bồ đề Đạt ma và chuyện tìm tâm của ngài A-nan theo sự "khai thị tiệm ngộ" của Đức Phật bạn thấy thú vị lắm. Cũng như so sánh hai cuộc hội kiến giữa Tổ với Lương Võ Đế và với Huệ Khả, một bên nói về "phước đức tiệm tu" một bên là "công đức đốn ngộ": "trực chỉ nhân tâm - kiến tánh thành Phật" thì vấn đề rất là sáng tỏ. Và mình cũng hiểu được vì sao Tổ Hoằng Nhẫn không chọn "thượng tọa học giả" Thần Tú làm người kế thừa mà lại chọn cư sĩ đốn củi giã gạo Huệ Năng!

12) Nói thì dễ chứ thật ra đây là sự dụng công của nhiều đời kiếp. Mình là phàm phu mà bàn về chuyện của các tổ sư thì như người ở dưới chân núi nói về cảnh giới trên đỉnh. Nhưng nghĩ rằng đây là thời "mạt pháp đa văn", mình có cơ hội nói chuyện đạo dầu đúng hay sai cũng là đáng quý, nhất là ở xứ Mỹ nầy.- Mới ở đây mấy tháng mà tôi thấy đất nước nầy có nhiều điều hay lắm. Nó cọ xát mài dũa làm sao mà những người bạn tôi bên nầy đều trở thành "rất có cá tính" trên cương vị của mình.

Tôi nghĩ là nếu không có biến cố 75, dù bây giờ các bạn là Đốc sự ngoại hạng đi nữa thì phong cách cũng không được như bây giờ đâu! Tôi thực lòng nể phục tính cách của hai bạn Trương văn Anh, Trần đắc Mưu, cũng như Lữ thế Cần và tất cả các bạn mà tôi đã hân hạnh gặp ở Mỹ nầy.
Đúng như bạn Nguyễn viết Đức nói, tôi học hỏi được một phần cái hay của các bạn thì mới không hổ thẹn là cựu sinh viên QGHC.

Đây là tất cả tấm lòng tôi.
Ngưng nhé!
Hôm nào có dịp sẽ tặng các bạn bài thơ năm 72 ở Ký túc xá Học viện để các bạn có dịp cười về những vần thơ con cóc!


Thân mến,
Santa Ana 29/08/10
Võ Hoàng Ân

Sunday, July 4, 2010

VÕ HOÀNG ÂN
NGHE HƠI QUEN VỚI NHIỆM SỞ RẠCH GIÁ-KIÊN GIANG ???

***Mt68:
Chúng tôi vừa nhận được mấy chữ như vầy: ".... các anh nhớ không sai đâu. Võ Hoàng Ân nầy có xuống làm việc ở bên Tòa HC Thị Xã Rạch Giá , chứ không phải bên Tòa HC Tỉnh Kiên Giang. Tôi nhớ cái anh nầy ốm, hơi nhỏ con 1 chút, ở trọ nhà Ông Dân Biểu Bùi Nhực Nghĩa thì phải ??? Hình như anh Võ Hoàng Ân làm chức gì đó trong Ty Hành Chánh ? Không nhớ rõ, có phải Trưởng Ty Hành Chánh hay không ? Phải chi có anh Đỗ Quang Tỏa, hiện ở Wash.DC xác nhận thì chắc ăn 100% !!! Vài hàng thăm Anh xxx và gia đình. Chúc anh xxx còn dồi dào sức khỏe để đánh đấm cho vui những năm tháng xa quê hết mong ngày về !!!... THC/ RG." ./- mt68

CHIA XẺ TÂM TÌNH
Gặp Bạn Võ Hoàng Ân


Trong thời-gian gần đây tôi nhận được một e-mail của bạn Chế Minh Châu. Bạn cho biết là bạn Võ Hoàng Ân vừa đến định cư tại vùng Quận Cam, miền Nam California, Hoa Kỳ và tình cờ bạn Chế Minh Châu vừa gặp được bạn Võ Hoàng Ân tại một tiệc cưới nọ. Võ Hoàng Ân là một bạn học cùng khóa với tôi tại Học-Viện Quốc-Gia Hành-Chánh gần 40 năm về trước. Dù học chung trường, chung lớp nhưng bạn ấy đối với tôi hầu như là một người xa lạ. Tôi đã không có dịp chuyện-trò trực-tiếp với bạn trong quá-khứ thuở còn đi học. Sau khi tốt nghiệp xong, mỗi người lại đi một nơi khác nhau. Tôi về Tổng Nha Thuế Vụ làm việc tại Nha Huấn Luyện. Còn bạn Ân từ đó được bổ nhiệm đi đâu thì tôi hoàn toàn không rõ. Nghe đến tên bạn qua e-mail của bạn Chế Minh Châu tôi chỉ có một khái niệm lờ mờ về một người bạn học cũ và tôi chỉ còn nhớ mang máng khuôn mặt và vóc dáng của bạn ấy mà thôi. Tình-cờ, không hẹn trước, tôi đã gặp lại “cố nhân”, có lẽ là bởi do nhân duyên mà ra, theo kiểu “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” như câu của người Việt thường nói.

Tôi sống ở trên vùng Los Angeles, ít có cơ hội xuống Quận Cam. Thỉnh thoảng tôi ghé nơi ấy khi đi lo việc riêng hay gặp gỡ bạn bè mà thôi. Vào chiều ngày mùng 6 tháng 5 năm 2010, sau khi nhận được thư thông báo từ bạn bè, tôi xuống Peek Family để viếng nhạc mẫu của bạn Đèo Chính Mung tại phòng số 3. Tại đây, tôi đã gặp được một số các bạn đồng khóa, trong đó có Võ Hoàng Ân cũng đến nơi ấy với cùng một mục đích. Ngày hôm đó, chúng tôi cùng nhau viếng Cụ nhạc mẫu của bạn Đèo Chính Mung, và cùng nhau vái linh-cữu của Cụ. Bạn Lê Phước Ba, một người ăn mặc lịch sự nhất trong nhóm bạn của ngày hôm ấy được bạn bè “đề cử” đại diện anh em nói vài lời chia buồn với tang gia. Trong bộ veston, cà vạt chỉnh tề, và với thiện-chí có sẵn, bạn Lê Phước Ba không khách sáo gì hết, ứng khẩu bày tỏ cảm tưởng trước đại diện tang quyến và ngỏ lời thành thật chia buồn với họ về sự mất mát to lớn trong gia đình. Xong công việc của ngày hôm ấy, bạn bè có mặt rủ nhau đi ăn tối chung một bữa. Có vài bạn vì bận rộn chuyện gia đình nên cần về ngay. Cuối cùng chỉ còn có bạn Võ Hoàng Ân, vợ chồng Lê Phước Ba-Triệu thị Ngà, Ngô Xuân Vũ, Trần Bạch Thu và tôi trực chỉ đến nhà hàng Capital Seafood tại thành phố Garden Grove. Đây cũng chính là tiệm ăn mà vào tháng 6 năm ngoái tôi đã có dịp gặp lại “cố nhân” Cao Đức Nhuận trong lần hai vợ chồng bạn đến Hoa Kỳ thăm cậu con trai đang du-học bên Mỹ. Coi bộ, tôi có duyên với các bạn phương xa đến và có duyên với chỗ ăn uống này đây. Như thường-lệ, bạn Lê Phước Ba lại đại diện anh em để đặt thức ăn. Các thành viên còn lại tại cái bàn tròn ngày hôm ấy không cần phải bàn-soạn gì trước và đều tỏ ra nhất trí, hoan-hỉ với phần hành lo liệu các món ăn của cặp bài trùng Ba Ngà. Và cũng như thường-lệ, bạn Ba Lê lôi ở trong một túi giấy ra hai chai rượu vang dùng làm nhạc đệm cho các món ăn nòng cốt buổi chiều tối hôm ấy. So sánh với bạn Ba Lê, tôi thấy thoạt nhìn thì bạn ấy sướng hơn tôi nhiều về cái khoản ăn uống; vợ chồng bạn Ba Ngà rất sành điệu về nấu nướng và ăn uống.

Nhưng xét kỹ lại, hai bạn ấy lại “khổ” hơn tôi nhiều. Giản dị là vì quá rành ăn uống cho nên bạn ấy phải kén chọn món ăn, trong lúc tôi không biết tí gì về nấu ăn nhưng vì ham ăn và chỉ có biết có ăn mà thôi cho nên tôi được ăn ngon trong lúc tâm tư không hề thắc mắc, khỏe ru. Cái số của tôi nghiệm lại nó rất lạ. Tôi quen biết với khá nhiều người thích ăn ngon nơi sở làm và ngoài xã-hội. Nhờ giao du với họ tôi đã có cơ hội thưởng thức được thi vị ẩm thực trong đời. Nói đâu xa, trong số các bạn ngồi cạnh tôi đây, vợ chồng các bạn Ba Ngà, Ngô Xuân Vũ và Trần Bạch Thu đều là chuyên-viên ẩm thực đáng tin cậy. Dù rằng nấu nướng là sở đoản của tôi nhưng thiết nghĩ các bạn bè cũng cần đến tôi lắm. Ấy chẳng qua là vì, dù không biết nấu nhưng tôi lại biết ăn; ít ra tôi cũng được một nửa, và phàm người nấu ăn ngon lại cần đến bạn bè biết thưởng thức món ăn ngon và có vài nhận xét xây dựng mà điều này thì tôi có thừa thiện chí. Ngay cả các nhà hàng nổi tiếng khi làm ăn thương mại cũng mong có các nhà phê-bình ăn-uống, food critic, ghé qua thưởng lãm và cho vài lời khích lệ, cho nên cái vai trò phê bình nghệ thuật nấu nướng của tôi xem ra cũng có đất dụng võ và vì thế bạn bè không thể nào bỏ lơ tôi được. Mà cái khoản này các bà nội trợ xem là một loại “vitamin” cần thiết. Ngày nào cũng nấu ăn ngon cho ông chồng của mình, các ông ăn riết thấy thường đâm ra nhàm chán và xem thường tài năng của các hiền thê, thỉnh thoảng kéo tôi đến nhà, tôi chia sẻ cho các bà vài lời vàng ngọc, một loại phần thưởng tinh-thần quí giá, về cái giá trị tài năng nội trợ của quí bà, thì thử hỏi làm sao quí bà không cảm động cho được. Cũng chính nhờ tôi biết trân trọng sự tiếp đón ân cần của vợ chồng bạn bè mà tôi có duyên ăn uống dài dài vậy. Được biết bạn Võ Hoàng Ân ăn chay trường cho nên vợ chồng bạn Ba Ngà bảo nhà hàng làm cho cả hai loại, vừa chay vừa mặn để tất cả cùng ăn chung. Có thực mới vực được đạo, quả không sai. Phải có cái gì cho vững bụng trước cái đã kế đó phe ta mới có thể sinh hoạt khởi sắc với nhau được. Chúng tôi vừa ăn vừa uống, vừa chuyện trò vui-vẻ, tương đắc lắm. Bạn Võ Hoàng Ân có vóc dáng tầm thước, sắc diện tươi-nhuận, tính tình xuề-xòa, vui-vẻ, dễ chịu. Khuôn mặt bạn có nét của “dị nhân” và hơi khắc khổ của một đạo sĩ. Được biết bạn có cuộc sống của một cư sĩ. Bạn đã tu-tập và thực-hành giáo lý đạo Phật từ cả 20 năm nay. Bạn có vẻ ít nói, nhưng khi được bạn bè hỏi han, bạn sẵn-sàng trả-lời chi tiết làm hài lòng người nghe. Thỉnh thoảng, bạn vui-vẻ cung-cấp cho bạn-bè các kiến-thức liên-quan đến các đạo sĩ, hay thiền sư Ấn độ hoặc Việt Nam và các căn-bản lý-thuyết nhà Phật. Bạn có một sự hiểu biết rất rộng rãi về các phương-diện này. Trong suốt buổi chiều tối hôm ấy, bạn Võ Hoàng Ân giữ một cung cách dung dị, bình thản. Dù mới đến định cư tại Hoa Kỳ vào lúc tuổi đã cao và với hoàn cảnh gia đình ngặt nghèo của bạn ấy, nhưng tôi thấy bạn Võ Hoàng Ân không hề bộc lộ một thái độ tiêu-cực, bi-quan nào cả. Bạn đối diện với hoàn cảnh và cuộc đời ở một mức độ lạc-quan nhiều hơn tôi tưởng. Nhân dịp này, tất cả bạn bè có mặt đã bày tỏ hành động tương thân tương trợ đối với một bạn học cũ bằng cách cho biết họ sẵn sàng làm được việc gì cần thiết cho giai-đoạn mới định cư tại Hoa Kỳ của vợ chồng bạn Võ Hoàng Ân.

Có bạn cho biết nếu bạn Ân cần đến giường, tủ lạnh hay tivi, bạn ấy sẵn sàng cung-cấp. Có bạn cho biết nếu bạn Ân có cần đến phương-tiện chuyên-chở lúc dọn nhà, bạn sẵn sàng đem chiếc xe truck của bạn đến nhà phụ giúp. Vợ chồng bạn Võ Hoàng Ân đến được Mỹ do sự bảo lãnh của một người em trai của bạn. Hai vợ chồng bạn hiện đang sống chung tạm thời với gia-đình người em này. Họ đang chia sẻ với nhau một căn phòng nhỏ bé, chật chội so sánh với số người trong gia đình. Chính vì thế mà vào các ngày sắp đến, vợ chồng bạn Võ Hoàng Ân sẽ cần dọn ra ở riêng. Vợ chồng bạn hiện còn có gia đình một người con gái và chị em đang sinh sống tại Việt Nam. Vì thời-giờ có hạn cho nên sau khi ăn uống và nói chuyện với nhau xong, chúng tôi chia tay, ai về nhà nấy. Tuy nhiên, trước khi ra về, bạn Trần Bạch Thu có nhã ý mời tất cả bạn bè có mặt hôm ấy đến nhà vợ chồng bạn vào ngày Thứ Năm 20 tháng 5 để sinh-hoạt tiếp. Mọi người đều hoan hỉ nhận lời. Ăn uống đi trước, lội nước đi sau. Ngày Thứ Năm đã định tôi là người đầu-tiên có mặt tại tư gia của vợ chồng bạn Trần Bạch Thu trong thành phố Long Beach. Khoảng 15 phút sau, tôi thấy có vợ chồng Ba Ngà, Ngô Xuân Vũ, Trần Đình Mười và vợ chồng Võ Hoàng Ân. Đi chung với phái đoàn còn có một chị, hình như là họ hàng của chị Ngà. Tất cả sáu người đi chung chiếc xe Avalon của bạn Ba Lê và do chính bạn cầm lái. Lúc đến thì mọi người bụng còn lép, chiếc xe của bạn Ba Ngà đỡ vất vả, nhưng cứ nghĩ đến lúc ăn uống no nê xong xuôi mà con ngựa sắt của bạn Ba Ngà phải chở đến sáu người và được điều khiển bởi một chuyên-viên kế toán đang ngà ngà, nửa tỉnh nửa say như thế thì không biết kết quả sẽ ra làm sao. Ở đời cũng có cái lạ, có người càng say lại càng lái xe lả lướt hơn. Rượu chỉ thấm sâu và ảnh hưởng đến thần trí của tài xế sau khi họ đã về đến nhà an toàn và sau khi leo lên giường ngủ. Tôi đoán bạn Ba Lê ở vào trường hợp này, vì tôi đã từng trải qua kinh-nghiệm như thế hồi còn ở Việt Nam. Trước khi đi vào chương-trình sinh-hoạt chính thức, chủ và khách ngồi ngoài patio với gió mát hiu hiu vừa chuyện trò vui-vẻ, vừa điểm sơ món khai vị nem nướng đặc sắc do hiền nội của bạn Trần Bạch Thu làm. Dĩ nhiên để cho không khí được ấm cúng và rộn ràng, gia chủ không quên khui ra một chai rượu vang. Chủ nhà mà quên cái khoản này thì đã có bạn Ba Lê nhắc nhở. Ăn ngon mà thiếu rượu nồng chẳng khác chi mặc bộ veston mà không mặc quần vậy. Nói thế để thấy rượu nó quan-trọng và có tính cách chính danh biết chừng nào! Rượu vào lai rai thực khách cảm thấy tự nhiên thoải mái bộc lộ tâm tình. Tôi nhớ vào một Giáng sinh năm nào, trong một buổi tiệc tại nhà bà mẹ vợ của tôi, một ông anh cột chèo của tôi ngồi bên cạnh, trước khi vào tiệc, nhìn các lon bia trên bàn, anh quay sang nói với tôi và các người khác đều nghe được, là anh có cái tật là khi có bia và rượu vào anh hay có thói quen nói ra những điều thầm kín “chết người” mà bình thường anh không nói. Thế là sau khi anh làm vài hơi bia xong anh bắt đầu “thành khẩn khai báo”.

Được trớn, anh còn vận động và thuyết phục tôi làm đồng minh với anh trước mặt bà mẹ vợ, khiến tôi sợ đến muốn chết giấc luôn. Hôm nay, gặp lại bạn Võ Hoàng Ân và các bạn, dù rượu có vào, lời có ra nhưng chỉ đem lại ngạc nhiên thú vị cho người nghe như tôi chứ không đáng ngại như buổi tiệc giáng sinh bên nhà vợ năm nào. Nhờ buổi tâm tình này, tôi biết được vài điều về các bạn của tôi mà năm xưa tôi chưa hề được biết. Hóa ra Ngô Xuân Vũ là Á khoa của khóa 17 B và Võ Hoàng Ân là người đậu trong vòng 5 người đầu. Còn các bạn như Ba Lê và Trần Bạch Thu chỉ muốn đầu tư vào chuyện học hành vừa phải để cuối cùng cũng tốt nghiệp ra trường như bao nhiêu các bạn đồng khóa là họ hài lòng lắm rồi. Có vài điều bất ngờ tôi nghe được ngày hôm ấy là bạn Võ Hoàng Ân không quan-tâm rốt ráo đến chuyện học hành, kể từ thời trung học cho đến đại học. Bạn thích chơi và thích nhậu nhiều hơn. Bạn tâm sự là hồi còn ở dưới tỉnh bạn chẳng chịu học hành nghiêm chỉnh cho nên khi đến kỳ thi Tú Tài bạn đã chọn thi Ban C. Mà Ban C thì môn sinh-ngữ được kể là quan-trọng, ấy thế mà bạn lại tơ lơ mơ. Vào phòng thi, mở đề thi bài Anh ngữ ra, bạn nhìn thấy đề tài “Freedom” bạn không hiểu cái nghĩa của nó là gì, bạn bèn hỏi nhanh một thí sinh ngồi cạnh. Anh này bèn nói với Võ Hoàng Ân rằng: “Bạn thi Ban C mà lại hỏi tôi câu này là bạn muốn dỡn chơi với tôi hay sao?” Quả thực bạn Ân không biết thật, mà người nghe chuyện có cùng ý nghĩ khó hiểu. Ấy thế mà bạn Ân cũng làm xong bài. Kết quả, cả một vùng ba tỉnh miền Nam trong số mấy trăm sĩ tử Tú Tài năm ấy có tổng cộng 9 thí sinh thi đậu, và Võ Hoàng Ân là một trong chín người học sinh ấy. Phải có Tú Tài thì thanh niên mới có thể trở thành sinh viên đại học và cái mác sinh viên vào thời ấy cũng có giá lắm. Còn những chuyện khác mà bạn Ân chia sẻ làm cho chúng tôi có cảm giác như được nghe chuyện “phong thần”. Vào Hành Chánh rồi, bạn vẫn giữ vững lập trường bất di bất dịch thuở xưa, chẳng chịu học hành chăm chỉ. Bạn kể có lúc bạn tưởng rằng bạn đã bị Giáo sư Nguyễn thị Huệ đuổi ra khỏi trường rồi. Có nhiều bạn có kinh-nghiệm về Cô Huệ. Tốt nghiệp Tiến sĩ Xã Hội Học tại Colorado Hoa Kỳ, cô dạy học tại HVQGHC trong đó có môn Vận Động Nhân Dân. Phương cách Sư phạm của Cô có lẽ bị ảnh hưởng bởi chính con người Cô và nền giáo dục hiện đại Hoa Kỳ cho nên coi bộ khác hẳn các giáo sư đồng nghiệp khác. Trong liên hệ thầy trò giữa Cô và sinh viên, mọi người đều nhận ra cái đặc tính vừa chuyên-nghiệp vừa cá nhân. Học trò nào tinh ý một chút đều có nhận xét là muốn được thành công ra trường, trong thời gian học với Cô Huệ tốt nhất là đừng làm cái gì khiến Cô chú ý. Nếu Cô chú ý đến cái ưu điểm của mình thì tốt. Nhưng xui xẻo cho anh học trò nào để lộ cái xấu, dở của mình ra mà Cô nhìn thấy. Cô mà ghi cái đó vào đầu rồi thì sinh viên ấy chỉ có....thác mà thôi; ngày tốt-nghiệp sẽ không bao giờ tới nữa. Người sinh viên đó chỉ còn nước đổi nghề mà thôi.


Võ Hoàng Ân là một trong những tay học trò mà Cô Huệ đang ghim đó. Ấy là vì thỉnh thoảng Cô hay tổ chức các chuyến đi với phương tiện do chính phủ hay Hải quân Việt Nam cung-cấp, nhờ đó sinh viên được mở rộng tầm nhìn, nhất là về hành chánh địa phương và các vùng đất nước thân yêu. Bạn Võ Hoàng Ân không chịu tham gia từ đầu đến cuối. Có lần, mới tham dự được khóa huấn luyện cán bộ Vũng Tàu đến ngày thứ ba đã có ba bạn vượt hàng rào chuồn ra ngoài. trong ba thanh niên ấy, Võ Hoàng Ân là một. Dù sao thì bạn cũng là thành phần biết người biết ta cho nên bạn biết rõ cái triển vọng đường đi không tới của bạn với sự tiếp tay của Cô Huệ khi nhận ra cái tác phong thiếu hợp tác nhiệt thành của một sinh viên ham chơi nhiều hơn ham học như bạn. Thế nhưng nhờ khôn ngoan và thời cơ thuận lợi, bạn đã đảo ngược tình thế, từ ghét thành yêu, nhờ làm một bài thơ ca tụng Cô giáo của mình. Để hôm nào bạn phổ biến lại bài thơ ấy cho tất cả các bạn bè khác cùng thưởng lãm. Bạn thường chẳng chịu sửa sọan gì cả cho việc thi cử; tối hôm trước thay vì học bài, bạn lại đi nhậu. Những lần thi cử như thế bạn đều đạt được điểm cao là nhờ hoặc dựa vào trí nhớ nghe giảng trong lớp trước đó, hoặc là tối về bạn dở sách đọc qua cấp tốc một lần chót, hoặc là bạn dở sách đọc trúng đề tài trước khi khởi sự môn thi. Tới giờ này, tôi thật vẫn không tài nào hiểu nổi với cái kiểu học hành lơ mơ như thế mà bạn Võ Hoàng Ân lại tốt nghiệp hạng 5. Phải nói chính xác rằng: Only God knows, chỉ có Trời biết. Tiếp theo sau phần khai vị, chúng tôi tất cả kéo nhau vào phòng ăn. Như tôi đã nói, hiền nội của bạn Trần Bạch Thu có tài nấu ăn thần tình, không có chỗ chê. Hôm ấy, chị trình làng món bún mắm, ăn với canh hải sản, cá tôm.... và các loại rau tươi. Ngoài ra có thêm món cây nhà lá vườn bánh cuốn nhân thịt do bạn Trần Đình Mười đem tới. Chị không quên làm vài món chay cho vợ chồng bạn Võ Hoàng Ân. Vừa ăn vừa uống, chúng tôi lại tiếp tục trò chuyện. Bạn Võ Hoàng Ân chia sẻ với các bạn về các kiến thức tu học của bạn. Bạn nói rất chi-tiết và một người sơ cơ như tôi dù là có nghe đấy nhưng chẳng khác nào như vịt nghe sấm vậy. Ngoài ra, bạn Ân lại còn hoan-hỉ trả lời các câu hỏi và thắc mắc do bạn bè nêu ra. Thiết nghĩ, trong tương lai phải cần gặp bạn ấy nhiều lần may ra tôi mới được bạn đả thông phần nào.

Tôi lại được biết thêm là bạn Võ Hoàng Ân có tài làm thơ nữa. Nghe nói hồi xưa bạn có thể sáng tác thơ tại chỗ sau khi rượu vào, rượu càng vô, thì thơ phú càng nhả ra cấp kỳ và mãnh liệt. Chính vì thế, tôi có nhận xét là bạn Võ Hoàng Ân có dị tướng quả là không sai. Bạn kể lại là vào thời gian sau 1975, bạn có ghé vào cửa tiệm của một ông thầy tử vi, tướng số, chỉ tay, có bảng hiệu ngụy trang bên ngoài là tiệm bán tạp hóa. Gặp Thầy, bạn hỏi ông ấy có còn hành-nghề cũ hay không, Thầy trả lời có. Thế là Thầy xem qua chỉ tay của bạn. Sau khi nhìn qua các đường chi tay của bạn một cách chăm chú, Thầy mới lôi cuốn sổ có hình chỉ tay của 20 nhân vật đặc biệt trên thế giới cho bạn xem. Thầy nói: “Anh bạn so sánh tấm hình trong sách và đường chỉ tay của bạn và cho tôi biết nhận xét của anh bạn ra sao?” Bạn trả lời: “Cả hai giống y hệt nhau.” Thầy hỏi: “Thế anh bạn có biết đó là chỉ tay của ai hay không?” Bạn bảo: “Tôi hoàn toàn không biết.” Thầy tiết lộ: “Đó là bàn tay của Mahatma Gandhi.” Thầy kết luận là sau này bạn Võ Hoàng Ân sẽ đi về con đường tâm linh. Nghe thế, bạn không tin một chút nào hết. Và Thầy còn tiết lộ rằng bạn sẽ bị chết sớm nữa. Rồi sau đó một thời-gian, bỗng dưng bạn phát ra một chứng bệnh hiểm nghèo. Đỉnh đầu của bạn nổi lên một cục u lớn đau nhức. Trong túi không có tiền, làm sao có thể đi bác sĩ giải phẫu chữa trị? Đây không phải là một khối u bình thường. Nó khiến cho tóc của bạn rơi rụng, triệu chứng giống như một loại ung thư máu vậy. Nhớ lời ông Thầy tướng, bạn nghĩ rằng những gì Thầy nói năm xưa đang dần dần trở thành sự thật và như vậy cái ngày kết cục cuộc đời của bạn không còn xa cho lắm. Tình cờ bạn gặp lại một ông Thầy quen khác, ông ấy biết là bạn uống được rượu cho nên ông rủ bạn vô nhà để cả hai cùng uống với nhau. Lúc khác thì bạn đã đáp ứng ngay, nhưng gặp lúc này đang bệnh hoạn đau đớn như thế làm sao mà còn uống rượu được nữa? May quá, ông Thầy nói với bạn: “Thôi vào đây, tôi chỉ thuốc cho.” Ông ấy bảo bạn về kiếm lá Cối Xay đun lên uống vào. Bạn làm theo, kỳ lạ thay, bệnh từ từ thuyên giảm và dứt hẳn từ đó đến nay.

Ngoài ra, bạn Ân còn kể là đời bạn có những cái may mắn lạ thường. Vào những lúc tưởng là tuyệt vọng lại có người giúp đỡ, quới nhân phù trợ; không phải một lần mà đã nhiều lần như thế. Bạn nói có lần hết tiền không biết gạo củi sẽ được xoay sở ra sao bỗng nhiên có người ôm một túi bạc đến nhà kiếm bạn và nhờ bạn mở và điều hành một hãng đường cho họ.

Qua những giây phút tâm tình với bạn Ân, hầu hết các bạn có mặt nhìn về tương-lai đều lộ vẻ lo âu dùm cho bạn mình. Đến được Mỹ vào lúc tuổi đã cao, sức khoẻ không còn khả quan như lúc trẻ, lại thêm hầu hết những người trong nhà già trẻ lớn bé đều mang một chứng bệnh di-truyền hiểm nghèo, và gia đình bạn còn đang trong tình trạng chia ly cách trở, tài chánh hoàn toàn eo hẹp, và hai vợ chồng bạn còn đang phải ăn nhờ ở đậu nơi nhà người em trai, mà người em này cũng đang có vấn đề sức khỏe nghiêm trong nữa. Biết ra như thế hỏi sao bạn bè không lo lắng cho được! Bạn bè muốn giúp bạn bằng cách giới thiệu việc làm cho vợ chồng bạn. Công ăn việc làm là quan-trọng nhất. Có làm việc thì mới có lợi tức và tư đó mới có thể ổn định cuộc sống và và giải quyết các hệ lụy khác. Tuy nhiên, vì bạn mới đến Mỹ cuối tháng Ba và còn đang sắp xếp cuộc sống mới cho nên vấn đề việc làm sẽ được bạn từ từ tính sau. So sánh bạn Ân và các bạn bè khác ngày hôm ấy, phải nói rằng bạn có một thái độ bình tĩnh, chủ động chứ không bồn chồn lo âu trước tình thế mới như các bạn bè. Tôi cho đó là một ưu-điểm của bạn Ân. Hoàn cảnh bên ngoài đã không làm bạn giao động.

Ngược lại, bạn vẫn an nhiên tự tại, vui vẻ, tự nhiên với bạn bè khiến cho mọi người vơi đi sự lo lắng thường tình. Ngẫm nghĩ lại, trong thời gian ngụ tại quê nhà trước đây, bạn đã từng sống nhiều năm trong một cái chòi nhỏ, giữa đồng không mông quạnh, thiếu hẳn tiện nghi tối thiểu, bao quanh bởi đủ loại rắn rít và côn trùng lớn nhỏ về vật lý, và bạn đã tu học, trang bị vững chãi về tinh thần và tâm linh trong bao nhiêu năm nay thì kết quả là bạn có được một niềm tin vững chãi không lay chuyển như thế cũng là điều dễ hiểu thôi. Người ta sợ nhất cái gì ở trên đời? Đó là cái chết. Bạn Võ Hoàng Ân tin tưởng rằng sống chết là do số mạng cả. Bạn đã từng nguyện rằng nếu được Trời cho gặp lại được người em trai của bạn tại Hoa Kỳ sau một thời gian dài xa cách là bạn đã thỏa lòng mong ước rồi, sau đó dù có chết đi bạn sẵn sàng chấp nhận không oán than, trách móc gì hết! Cũng nhân dịp gặp gỡ kiểu bỏ túi này tôi được nghe bạn Trần Bạch Thu tâm sự về giai đoạn bạn được Trung tá Hậu đề bạt bạn giữ chức vụ Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh Kontum. Bạn là đồng môn duy nhất của khóa tôi đạt được chức vụ này vào tuổi 25. Nếu không được nghe bạn kể chuyện, tôi cứ ngỡ rằng đường đời đều bằng phẳng cả và tôi đã không ngờ được bạn đã trải ít nhiều gian truân. Bộ Nội Vụ mà trong đó có nhiều viên chức hành chánh cao cấp kể cả ông Tổng Trưởng đã không hỗ trợ cho việc thăng tiến của bạn. Ngược lại, họ lại là một trở ngại rất lớn.

Nếu không có sự yểm trợ của Trung tá Tỉnh trưởng, của ông bố vợ tương lai, trưởng Ty Ngân Khố, Dân Biểu địa phương, các nhà lãnh đạo tinh-thần và tôn giáo đặt tin tưởng vào thành phần trẻ với đầy nhiệt tâm, lý tưởng và trong sạch, chắc chắn bạn Trần Bạch Thu đã trở thành “history” rồi. Nghe bạn kể về cuộc đời của bạn tôi mới nhận ra tôi thiếu sót cái chí phấn đấu liên tục của bạn. Vào năm 2005, tôi cảm thấy thấm mệt vì công vụ tại Hoa Kỳ. Vợ chồng tôi không có con cái.

Ngoài việc làm cho chính phủ, tôi còn có cái “job part-time” từ hãng tư, hai, ba ngày một tuần từ hơn hai chục năm nay. Năm ấy tôi vừa 55 tuổi, giữ vững lập trường công vụ VNCH, tôi quyết định về hưu. Bà vợ tôi xưa nay vừa đi làm vừa đi học rất ư là vất vả, thấy thế mới bảo tôi rằng: “Làm công chức Hoa Kỳ nhàn hạ chết đi được, tuổi lại còn trẻ thế mà chưa chi đã bỏ của chạy lấy người!”. Bà ấy nói gì, khích bác tôi cỡ nào tôi cũng phe lờ. Tôi có lối suy nghĩ của tôi, quan niệm sống và triết lý sống của riêng tôi, tự tôi biết rõ. Tôi sống cho tôi, và vì tôi. Nhưng bù lại, để cho cuộc sống được thăng bằng, tôi vẫn nghĩ đến người khác và mỗi khi có cơ hội tôi sẽ làm một chút gì để chia sẻ hạnh phúc với tha nhân. Tôi quan niệm tôi làm cái gì cho ai, cuối cùng chẳng qua là làm cho cá nhân tôi mà thôi. Hơn 5 năm nay, sau ngày hưu trí tôi tiếp tục cái công việc gần nhà, tận hưởng thú nhàn hạ, thấy hạnh phúc quá chừng chừng! Nếu ngày xưa tôi ở vào hoàn cảnh của bạn Trần Bạch Thu, chắn chắn tôi sẽ tháo chạy nhanh hơn nữa. Sách tàu đã dạy: Tẩu vi thượng sách. chuồn êm là hay hơn cả. Ai phê bình tôi yếu đuối, thiếu bản lãnh, tôi xin nhận, vì đúng với tôi quá rồi! Tôi không có tham vọng cao xa. Ngồi ăn chung với các bạn của tôi vào buổi chiều tối Thứ Năm hôm ấy, tôi cảm nghe hạnh-phúc dạt dào. Nhờ duyên lành, tôi gặp lại được bạn Võ Hoàng Ân. Nhờ duyên lành mà tôi được nghe những chia sẻ tâm tình của những người bạn tốt với cả một tấm lòng nhân ái bao la. Với tôi, niết bàn là đây, thiên đường là đây, ngay ở giây phút tương ngộ này.

Quả đúng như lời Phật dạy: “Đừng sống cho dĩ vãng, đừng mơ tưởng đến tương lai. Hãy tập trung tâm trí vào giây phút hiện tại.”
(Do not dwell in the past, do not dream of the future. Concentrate the mind on the present moment - Buddha)
“Nhìn nhận rằng thế giới tự nó chẳng có thật tánh, một người có trí tuệ không hành động như thể thế giới có thật, vì thế người đó sẽ thoát được khổ đau.”
(A wise man, recognining that the world is but an illusion, does not act as if it is real, so he escapes the suffering - Buddha)
“Sức khỏe là món quà đáng giá nhất, sự hài lòng là một tài sản lớn nhất, sự chung thủy là quan-hệ tốt nhất.”
(Health is the greatest gift, contentment the greatest wealth, faithfulness the best relationship - Buddha).
“Hạnh phúc có được là từ việc làm và lời nói của ta làm lợi lạc cho bản thân và tha nhân.”
(Happiness comes when your work and words are of benefits to yourself and others).
“Bạn nghĩ rằng tiền là nguồn gốc của tất cả cái ác. Thế có bao giờ bạn hỏi lại rằng nguồn gốc của tiền là gì hay chưa?”
(So you think that money is the root of all evil. Have you ever asked what is the root of money? - Ayn Rand) Con dao có thể dùng để thái thịt và giết người, tùy theo mục đích sử dụng mà ý nghĩa sẽ tốt hay xấu. Tiền là phương-tiện giao hoán, tiền tự nó chẳng có tội gì, người dùng đồng tiền vào mục đích sai quấy mới chính là thủ phạm. Cuối cùng thì cái tình bạn trong sáng theo năm tháng vẫn là tài sản quí giá nhất trên đời./-
Nguyễn văn Huy