Nhóm 1% QGHC - Thông tin nội bộ QGHC Tỵ Nạn Hải Ngoại. Thiết lập từ 2008- Email Liên Lạc: cnguyqghc@gmail.com

Tuesday, April 17, 2018

HOAN HÔ VÀ CHÚC MỪNG ĐÊM NHẠC QGHC CỦA HỌA SĨ ĐÈO CHÍNH MUNG./-Bỉnh Bút.

Đêm Nhạc "Mầu Thời Gian Ca Khúc Chính Mung"


Thân gửi Quý anh chị Cựu SV/QGHC,

Để đánh dấu một chặng đường tương đối khá dài trong cuộc đời hoạt động văn nghệ của Chính Mung và cũng để có chút gì kỷ niệm cho mình, cho người mình yêu, cho bạn bè và cho đời một món quà nhỏ. Chúng tôi có tập hợp được 25 ca khúc đã được viết từ thuở mới lớn (19 tuổi) cho đến nay đã hơn nửa đời người, vui có, buồn có… nó phản ảnh nội tâm của tác giả trải qua bao thời gian với những thăng trầm của cuộc đời.

Với những bản nhạc trong tập nhạc này, chúng tôi cũng mong được phổ biến tới bạn bè thân hữu, vì vậy chúng tôi sẽ tổ chức một đêm ra mắt tập nhạc với chủ đề:

 * Đêm Nhạc "Mầu Thời Gian Ca Khúc Chính Mung"

 * Ngày, giờ:  Thứ Bảy ngày 5 tháng 5 năm 2018 từ 7:00pm-10:30pm
 * Địa điểm:

    Viện Việt Học, 15355 Brookhurst St., #222, Wesmister, CA 92683.

Đêm Nhạc với các giọng ca thân hữu như:

Bích Thủy, Bùi Khanh, Bùi Tiến Dzũng, Chính Mung, Diệu Mai, Kim Yến, Lam Thủy, Lâm Dung, Ngọc Hoa, Ngọc Quỳnh, Phú Hùng, Phương Mai, Phương Thảo, Thanh Nguyên, Thụy Hoàng, Vương Đức Hậu.
MC: Nguyễn Hoàng Dũng - Ngọc Quỳnh
Keyboard: Phú Hùng - Bùi Tiến Dzũng
Nhạc cụ dân tộc VN: GS. Nguyễn Văn Châu

Vào cửa miễn phí.
(xin xem Flyer attached dưới đây)

Chúng tôi rất hy vọng quý đồng môn Cựu SV/QGHC bỏ chút thì giờ đến tham dự Đêm Nhạc "Mầu Thời Gian Ca Khúc Chính Mung".
Trân trọng kính mời,
Chính Mung (ĐS17)

Monday, April 9, 2018

MỘT CHÚT VỀ QGHC VIỆT CỘNG NẰM VÙNG TỪ NTPHÁT CANADA./-BB

On April 7, 2018 at 9:39 PM Phat Nguyen  wrote:

Nói thiệt với MH và các bạn nha, tôi căm thù tụi tiếp  tay VC nầy không kém gì VC đâu.

Trong số danh sách lũ tiếp tay VC phá nát miền Nam tôi thấy còn thiếu thằng Châu Tâm Luân, GS Kinh Tế. Đây àlà thắ̀ng kiss ass VC một cách trơ trẽn vô liêm sĩ. Ngoài ra chính thằng dân biểu Nguyễn văn Hàm đơn vị Nha Trang đã đặt kế hoạch ám sát GS Nguyễn văn Bông Viện Trưởng HVQGHC. ( Bạn đồng khóa vứi tôi Trần Quang Trí, cựu Quận Trưởng Quận 10, người đã cùnn ông cò Trần Tự Lập Trưởng Ty Cảnh Sát quận đặc trách điều tra vụ ám sát đã nói như vậy. Hơn nữa trong thời VC thống trị miền Nam, tên Hàm cũng khoác lać khoe khoan thành tích giết GS Bông của nó.
       Ngoài ra có hai người nữa chắc các bạn không biết nhưng tôi biết rành lắm. Đó là:
1) Đỗ Hữu Ưng, bạn đông khóa QGHC với tôi. Ưng là một Phật Tử thuần thành nên thường sang Viện Hóa Đạo
 và chùa Ấn Quang sinh hoạt rồi bị kết nạp luôn. Sau đó Cảnh Sát hoạt vụ vào Ký Túc Xá lùng bắt Ưng nhưng Ưng đã trốn thoát vào bưng. Sau ngày mất nước, Ưng trở về  làm Ủy Viên Thơ Ký Quận Nhứt (giống như Phó Chủ Tịch) còn Dương vân Đầy là chủ tịch. Vào khoảng 1979, tôi đang chạy Honda trên đường Hồng Thập Tự thì bỗng gặp Đỗ Hữu Ưng đi xe đạp ngược chiều (Phó Quận mà chạy xe đạp-đúng là cách mạng vô sản), Ưng mừng rỡ gọi tên tôi rồi quành xe đứng nói chuyện. Sau khi hỏi thăm tình hình bạn bè chung khóa, Ưng nhập đề liền " mầy là một trong những thầng bạn thân nhất của tao trong Ký Túc Xá. Vậy tao tha thiết nhờ mầy một chuyện là nếu mầ̀y có tính đường vượt biên thì làm ơn cho tao theo với" Tôi sửng sốt nhìn Ưng mà tưởng rẳng người vừa nói với mình câu đó là "tên ngụy" chính cống. Mậc dù Ưng là người bạn tốt, tính tình hiền lành dễ thương nhưng  mà trong hoàn cảnh nầy thì ai mà dám tin lời nó nói. Dù gì thì hai đứa chúng tôi đã ở hai chiến tuyến kh́ác nhau. Nhưng ́ tôi phải ỡm ờ trả lời " Ờ!Nếu có tao sẽ rủ mầy cùng đi" . Ưng liền cho tôi địa  chỉ  rồi hai đứa chia tay, Và tôi tã̉ng l̀ờ luôn cho tới ngày ra đi. Sau đó bạn bẻ chung khóa cũng như khác khóa định cư ở Mỹ và Canada cho biết Ưng đã tận tình giúp đở họ hoàn tất thủ tục HO hay ODP.  Và hơn sáu năm t́rước, Ưng và ngưởi chú ruột là Đỗ Trung Hiếu , một cán bộ cao cấp Cộng Sà̉n cùng phản tỉnh công khai nên bị VC trù giập và thanh toán cả hai năm 2013. Câu chuyện thương tâm nầy, nhà vân Phạm Tín An Ninh có viết trong một bài hồi ức của ông. Riêng tôi thì có những giây phút chạnh lòng thương cảm bạn ta.  Giá mà lúc đó tôi "gồng mình" cho bạn ta theo thì biết đâu cuộc đời Ưng đã khac̣ đi. Ưng ơi ! Xin thắp nén hương lòng tưởng niệm bạn
2) Người thứ hai cũng cũng mẫu mực hiền lành như Ưng nhưng cũng theo Việt Cộng vì gốc gác cách mạng
của gia đình (dân Củ Chi mà). Đó là anh Quách Anh Tú. Tôi quen anh Tú vì lúc học QGHC, tôi thường vào Đại 
Học Xá Minh Mạng thăm hai thằng bạn nối khố là Nguyễn văn Lý (ĐHSP ban Lý Hóa) và Trịnh văn Dĩ (ĐHSP ban Toán). Chắc nhiều bạn trong nhóm biết Dĩ Lý.Anh Tú (ĐHSP ban Việt Hán trước Dĩ Lý hai khóa) chung phòng với Dĩ Lý rất hòa nhã chân tình.Thỉ̉nh thoảng tôi cũng có xuống câu lạc bộ ăn cơm chung với ba người họ.  Điểm đặc biệt đáng nói về anh Tú là anh chơi cờ tướng rất hay, anh đã từng thủ hòa  với danh thủ Hồng Kông Lý Anh Mậu và ngang cơ với các kỳ thủ Sài Gòn thời bấy giờ như Đắng Thái Mai, Lâm Sanh Bính, Trần văn Kỳ. Ngoài ra anh còn có biệt tài đánh cờ mù. Tôi xin đơn cử câu chuyện:  anh qua phòng bên kia để cho tôi và Dĩ đánh cờ sáng (bàn cờ trước mặt )-phòng trong ĐHX Minh Mạng chỉ ngăn có tấm vách hơn một thước nên hở trên hở dưới nói gì cũng nghe hết.
Tưởng cũng nên nói thêm là tôi với Dĩ chơi cờ tướng rất khá néu không muốn nói rất có hạng ở các tỉnh. 
       Khi đi một nước cờ thì tôi Dĩ hô to thí dụ "Pháo 2 bình 5, Mã 8 tấn 7..." thì từ phòng bên kia anh cũng hô ti  " Xa 9 bình 8, Tượng 3 tấn 5..." Và tụi tôi xê dịch con cờ theo đúng lời hô. Có lúc tụi tôi cố tình đa bật hay ăn gian thì anh biết ngay. Đúng là bộ óc siêu việt.
       Sau khi tốt nghiệp anh xin về dạy Việt Văn tại trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu cho tới ngày 
 30 /4 /1975 chính anh tiếp thu trường và làm đảng ủy ở đó.
        Vài hàng chuyện đời xưa cùng quý bạn.

Friday, April 6, 2018

ÚC CHÂU

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
***
 

30.04 ghi ân anh hùng vị quốc vong thân
thương tiếc không nguôi
tôn tht tu

Khoảng 1967, tôi có đi theo một người bạn cốt ý ăn thịt bò nướng tại nhà một giáo sư Mỹ trên đường Duy Tân, Saigon. Cùng đến có Patrick Honey, chuyên viên về VN trong phái bộ Anh tại hội nghị Geneve 1954 và là cố vấn của ngoại trưởng Anthony Eden. Chừng mươi thực khách vây quanh ông trò chuyện một hồi không lâu lắm.  Honey nói ông ta không ngạc nhiên khi nghe tin chiến tranh bùng nổ tuy dưới dạng du kích chiến, đánh dấu bởi trận Ấp Bắc Bà Bèo (29.09.1959). Theo ông hơi hướng chiến tranh đã ngửi thấy khi hiệp định Geneve xem như đi đến kết cuộc chia đôi VN tuy chưa ký kết. Ông đã đánh hơi trong khi tiếp xúc với nhân viên các cấp của phái bộ CS.

Vẫn theo nhà ngữ học nầy, Phạm Văn Đồng tưởng chừng cường quốc giao hết cả nước Viêt Nam cho HCM vì nước Pháp còn tệ hơn một thương binh mất cả tứ chi. HCM đã căm hận đàn anh quốc tế không tiếp tục viện trợ quân sự. Trung Cọng muốn nhân cơ hội nầy chứng tỏ vai anh, ngang với Nga nên đã cố ép HCM chấp nhận cái khôn ngoan thường tình là có còn hơn không. CS chuẩn bị ngay từ đầu bằng cách hô hào tập kết ra bắc thành phần mới được tuyên truyền nhưng để lại thành phần cốt cán.

Thật vậy, về đến Hà Nội, HCM gọi là tả khuynh các nhóm hay cá nhân nào chủ trương lấy hòa bình xây dựng kinh tế nâng cao mức sống dân chúng, cạnh tranh với miền Nam. Kinh nghiệm cho thấy rằng đi theo kiểu phát triển của Triều Tiên chỉ đưa đến thất bại vì phía nam vĩ tuyến 38, Mỹ đổ tiền rất nhiều mà tài nguyên thiên nhiên cũng hơn. Miền Nam VN lại được thiên nhiên ưu đãi giàu có hơn nếu đem so bắc nam Triều Tiên.

Cải cách ruộng đất qua đấu tố, ngoài mục đích làm cho giống như đàn anh CS, nhằm đưa tất cả cơ cấu sản xuất tập trung cho nhà nước để chuẩn bị chiến tranh. Đoàn ngũ hóa nhân dân cũng đi vào mục đích ấy. Nền văn nghệ cũng quyết liệt hơn. Không còn nét dân tộc và lãng mạn như thời kháng chiến. Những tác phẩm có tính cách trực khởi từ tình tự dân tộc như của Hữu Loan, của Việt Lang... đều bị cấm triệt và các tác giả bị tù đày. Về lý thuyết và thực tế cái gọi là dân tộc không còn sức kêu gọi trong giai đoạn mới. Hơn nữa tính dân tộc là xương sống của những thứ cần đả phá để thay thế bằng lòng yêu đảng và lãnh tụ. Văn nghệ là văn nghệ sản xuất, là tin tưởng vào lãnh tụ.

Mọi hình thái sinh hoạt, mọi chủ trương chỉ nhắm vào đánh chiếm miền nam dù với hình thức trường kỳ.

Bằng chứng rõ ràng nhất của âm mưu được tìm thấy trong lời thuyết minh của Nguyễn Mạnh Tường trước hội nghị các luật gia về hòa binh 1956 tại Bruxelle (ghi lại trong một hồi ký). Ông đã kêu gọi các đồng nghiệp chấp nhận vũ trang và bạo động là hòa bình. Đừng ngây ngô mà nói hòa bình và võ trang khởi nghĩa là hai thực thể tách lìa và đối kháng; hai thứ đó không như ngày và đêm.

Ông đã than khóc cho một nước VN bị chia cắt bằng con dao là sông Bến Hải. Nói với luật gia, ông dùng ví dụ trong nghề, là các phiên tòa ly dị, con sông nầy là nước mắt của đàn con. NMT đòi thế giới công nhận sự nổi loạn của luật sư Nguyễn Hữu Thọ trong Nam. "Chúng ta không nên hiểu chiến tranh là cái gì nguy hại, không có lằn ranh giữa chiến tranh và hòa bình". Ông lên án sự hời hợt trong sự suy nghĩ của người bình dân, và ông chủ trương nhìn chiến tranh và hòa bình trong lối suy nghĩ biện chứng, vượt qua lối giải thích nặng phần ngữ âm và cú pháp.

Chỉ cách phía trên chừng mươi trang, NMT đã phân biệt chính trị và luật pháp. Một bên chính trị là mơ hồ như ma như quái; một bên là luật pháp rõ ràng có lằn mức giới định. Nhưng đến đây ông lại kêu gọi các luật gia đồng nghiệp dùng biện chứng cùng tính cách năng động để hiểu chiến tranh chính là hòa bình, vượt lên trên ngôn từ.

NMT quên nói rằng hiệp định Geneve 1954 được ký kết giữa hai phái bộ quân sự CS và Pháp. Nó tạo nên một hình thái phần nào giống tình trạng ở vĩ tuyến 38; quân Nhật bị giải giới bởi Nga phía bắc, Mỹ phía nam; thực tế tạo nên hai nước Triều Tiên. CS đồng ý rút quân về cố thủ phần chia lãnh thổ, phía bắc vĩ tuyến 17. NMT mang sứ mệnh do CSVN giao phó, cùng với Nguyễn Huy Mân chủ tịch tòa án quân sự để chuẩn bị dư luận quốc tế về âm mưu xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực.

Ngoài thực tế chính trị với tiền lệ rút quân ở Triều Tiên, Miền Nam vẫn có sự liên tục chính thống từ khi Bảo Đại tuyên bố độc lập sau thế chiến hai. Miền Nam là một quốc gia; chính phủ vẫn trông vọng một nước Việt duy nhất qua hai phản ứng 1. không chấp nhận dự Hội Nghị Á Phi với sự hiện diện của BV, 2. không chấp nhận đề nghị cả hai miền vào Liên Hiệp Quốc (đúng sai không bàn ở đây).

Kêu gọi luật gia thế giới ủng hộ một cuộc nổi loạn bạo động trong một quốc gia liên tục - ít nhất với lẽ thường - không có tí gì luật pháp. Đáng lý Hội Luật Gia Dân Chủ nầy phải để ý đến tình trạng luật pháp tại BV. Hà Nội đã đàn áp đẫm máu các cuộc nổ dậy, ví như vụ Quỳnh Lưu.

Lời lẽ văn hoa và chuyên nghiệp trước hội nghị che dấu sư hiện diện của CS trong việc hình thành hiệp định Genève. Ông chỉ nói một cách trống rỗng về tình trạng chia cắt. Nhưng ai cũng biết ông đến với một mục đích rõ ràng là bênh vực khởi nghĩa võ trang tại miền Nam. Ông đã cố tình (hay vì không biết) bỏ lững mối liên hệ giữa Nguyễn Hữu Thọ và chính quyền BV. Nhưng thiển nghĩ ông dư sức hiểu ông được phái đi không phải là thừa giấy vẽ voi.

Sau đó trong suốt cuộc hành trình, qua sinh hoạt với từng phái đoàn riêng, ông đã phê phán thậm tệ nền pháp luật BV trên lý thuyết và thực hành. Ông rất khắc khe với cải cách ruộng đất, không tiếc lời xấu xa cho chế độ CS. Nhưng học giả nầy quên hay cố quên rằng chính thể mà ông cho là tồi bại là phi nhân lại là guồng máy chỉ huy công cuộc mà ông ca ngợi. Đó là khởi nghĩa võ trang ở miền Nam. Nói khác ông mong chế độ ông chê trách phủ trùm đến Mũi Cà Mâu. Nếu mấy chữ kế cận trên đây không nằm trong ý tưởng của ông thì vị tiến sĩ đôi của chúng ta rất ngây ngô, hành sử như một luật sư chuyên nghiệp; làm việc cho một đơn đặt hàng nguy hiểm, như trường hợp biện hộ cho một kẻ sát nhân bị bắt quả tang và thú nhận cùng các bằng chứng rõ rệt.

Đây chỉ dùng một đoạn ngắn minh chứng sự chuẩn bị và ý hướng xâm chiếm miền Nam. Ông đã cổ súy sự tự phát võ trang. Điều nầy không mới lạ mà là một đề tài chính trong tuyên truyền của Hà Nội. Tính cách gọi là "nhân dân" ấy dễ ngụy trang du kích chiến. Mà du kích chiến tự nó không thể giải quyết rốt ráo, phải nhường chỗ cho chiến tranh qui ước và diện địa. BV đã đi ngược lối tuyên truyền ấy khi cho những đơn vị lớn vượt Bến Hải xâm vào Quảng Trị 1972; và sau đó chúng ta chứng kiến những trận đánh lớn và xua quân ào ạt chiếm miền Nam ngày 30.04.75.

Chiến trận kết liễu, phô bày trước mắt người miền Nam một miền bắc nghèo nàn và bưng bít; phô bày trước mắt người Bắc một miền Nam không phải là một nhà tù vĩ đại, dân chúng không ăn cơm với cái gáo dừa. Trước chính sách bần cùng hóa, người miền Nam còn ở trong nước, phải nghĩ đến cuộc sống khó khăn, ở ngoài nước chỉ nghĩ đến thân nhân. Họ không có thì giờ để nghĩ đến những người trong cùng chiến tuyến đã chết, vừa chết.

Sự thương tiếc ấy cũng bị lu mờ vì lòng căm hận đối với ván cờ thí xe lấy chốt, căm hận đối với những kẻ có binh quyền để lại cái băng nhựa kêu gọi chiến đấu đến giọt máu cuối cùng mà người thật đã cùng vợ con xô chiếc trực thăng xuống biển sau khi đã đáp an toàn trên tàu chiến ngoài khơi. Dân chúng không tìm ra trung tướng Thiệu, cái trung tướng mà người bằng da thịt tên Nguyễn Văn Thiệu bảo đảm hiện hữu, còn cái tổng thống Thiệu sẽ mất đi. Thì ra tổng thống cũng không, mà trung tướng cũng không.

south vietnam, abandoned uniforms, communist invasion, the vietnam war, fall of saigon

Tôi không quen ca ngợi kể cả ca ngợi Phật Chúa. Tôi lại không quen ca ngợi những chiến sĩ mọi cấp đã hy sinh, vì chính tôi là một quân nhân biệt phái, đi từ quân trường về nhiệm sở cũ và làm việc tại Saigon cho đến ngày hạ màn. Tôi đã không thấy sự cơ cực của người lính chiến, tôi đã không trực diện với cái chết kề hông. Tôi cảm thấy không đủ tư cách đứng lên đọc một lời cảm niệm, khệ nệ đặt một vòng hoa trên mồ chiến sĩ. Tôi không có quyền hô hào một ai xông vào lửa đạn. Nhưng tôi thấy được phép ta thán sự vong ân bội nghĩa, "bạc như dân".

Vừa đi tù về, một hôm chờ xe buýt, phải căng tai mà nghe để tách xa, khỏi di lụy; nhưng nhờ vậy tôi nghe hai bà nói với nhau vừa học ở phương, chỉ nhi74ng người như Lê Hồng Phong mới yêu nuốc, chứ như Tôn Thất Tiệp (Thiệp) tử sát khi Hàm Nghi bị bắt chỉ là bọn phong kiến mưu cầu lợi lôc.  Chuyện nầy làm tôi liên tưởng sự phê phán của vài bà tướng bà tá đối với bà Lê Văn Hưng: ông Hưng tự sát là phí đời, không cần thiết, không khôn ngoan tí nào.

Phải rồi, những bà ấy hằng ngày tại Saigon điều khiển mười sáu ông tướng bốn màu nên xem các ông tướng như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng không hơn gì con bài tứ sắc. Hàng ngày các bà điều khiển cả tiểu đội, nào lái xe cho bà đi chợ, lái xe cho con đi học, các bà có thể ăn lương của họ vì họ mưu cầu chữ thọ, điều khiển họ như tôi tớ. Vì vậy các bà không thể quan niệm cái hào hùng của anh lính trận, không thấy huynh đệ chi binh. Trong vài ngày cuối ở Cần Thơ, tướng Nguyễn Khoa Nam đi thăm bệnh viện dã chiến; một thương bệnh binh cố sức chồm ôm ông, vừa khóc vừa nói: trung tướng đừng bỏ em.

Các bà trung tướng... đeo sao của chồng tốt nhất nên ngậm miệng ăn tiền, vì rất có thể các đức ông chồng đang hung hăng trên diễn đàn cộng đồng, đứng đầu các tổ chức cựu quân nhân, bộ trưởng trong các chính phủ lưu vong. Ở đời có những người mình gặp mà không nói thì mất người, có người mình nói thì mất lời. Chị Hưng ơi, nói với họ làm chi, chị ơi.

Các bà thì sao cũng được còn các ông thì coi không được. Vài ông đã trở cờ. Nhưng điều buồn cười nhất là tất cả các vị ấy, dân sự, quân sự, văn nghệ sĩ đi đúng một khuôn thức: phải chửi lại cộng đồng, và chửi lại quân đội, hai tập thể đã cưu mang họ trong suốt cuộc đời họ. Không chửi như thế có được không? Đó là điều kiện của Hà Nội chăng?

Tôi không nghĩ như vậy, mà đây do tâm thức của kẻ qui hàng rất chi là Đông Chu Liệt Quốc. Ngày xưa Ngô Khởi tự ý giết vợ để cho vua tin. CS đa nghi, các vị ấy phải theo bài học của nhà quân sự Xuân Thu nầy. Rõ ràng, cứu cánh biện minh cho phương tiện; mà đây lại là phương tiện không cần thiết.

Nếu những người nầy thật sự là CS từ đầu (đảng viên hay nằm vùng) nay trở về chủ cũ; đó là những điều đáng buồn, họ không đáng trách. Nhưng đáng miệt thị là những kẻ từ trong trứng nước, lớn lên, giàu có trong ân huệ của miền Nam, hưởng không khí tự do (dù tương đối) quay trở lại làm hại cho miền Nam. Họ thuộc nhiều thành phần trong xã hội, và cũng là nhóm nhiều mồm mép nhất. Họ đáng bị nguyền rủa, trong lúc chúng ta không khinh thị những cán binh CS thực tâm tin tưởng như họ được tuyên truyền. Lớp nầy giống như kẻ bán khai chặt cây táo mà hái trái trong lúc người văn minh dùng thang mà hái rồi tưới nước cho cây.

Trường hợp tệ hại nhất, theo tôi, một ông tướng đã nói rằng nếu quân miền Nam giải phóng miền Bắc thì sự sát hại còn ghê gớm bội phần những điều đã xẩy ra sau 1975 bởi CSVN. Con cá sẩy bao giờ cũng lớn; vì con cá ấy chưa có trong tay, tự mình cảm thấy nó to hay tự ý khếch đại. Có câu hỏi trong Cổ Học Tinh Hoa, vẽ ma dễ hay vẽ người dễ; vẽ ma thì dễ quá, cái mũi không cần cân xứng, vẽ năm mười cái sừng cũng chả sao, nanh dài đến rốn càng tốt.

Biện lý cuộc đã xin tòa phán quyết tử hình cho một kẻ ăn cắp quả trứng gà. Quả trứng gà sẽ thành con gà, con gà sẽ thành bầy gà, sinh ra nhiều tiền, đem tiền đi đầu tư sinh lợi có thể xây cả trăm thành phố. Tòa giảm còn chung thân. Không một ai biết quả trứng có trống hay không.

Hy vọng lối suy diễn ấy chỉ mới có trong sự thôi thúc đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay, để xin điểm, để làm quà của hàng tướng như Ngô Khởi dâng thủ cấp của vợ. Nhưng nếu lối suy luận ấy nằm lòng từ khi các vị ấy còn nắm quyền ở VN, thì khỏi giải thích vì sao con cháu Lạc Hồng chạy re không đem theo được cái mền rách.

Bên trên, tôi có nêu lời Nguyễn Mạnh Tường chỉ trích cái nhìn bình dân, chưa đạt đến mức biện chứng. Nhưng tôi là người bình dân, tôi có cái nhìn rất bình dân.

"Thưa ông, đây là chồng tôi, mới được về hôm nay, xin ông vui lòng cho chồng tôi ở lại vài ngày". Tôi đi theo nhà tôi như đứa tớ dưới làng lên tỉnh giúp việc, qua nhà ông công an khu vực. Ông bất động như một thiền sư chìm sâu trong tam muội. Tôi nghĩ thầm nếu ông không gật đầu, thế nào tôi cũng phải ra chợ Nguyễn Tri Phương ngủ, chứ ở trong nhà thì trăm điều khốn khổ xẩy ra. Nhà tôi nhanh trí nói: Xin ông cho ở chừng ba ngày để sắp xếp đưa mẹ con tôi hồi hương, giao nhà cho chính quyền. Ông ta bậc dậy như ai lấy kim chích đít: "Được, lo sắp xếp mà đi đi nhe".

Căn nhà xập xệ nầy cũng giống như con trâu của một nông dân ngoài Bắc. Con trâu phải dâng hiến cho hợp tác xã, mong họ lấy cho mà đừng đấu tố chủ nhân, đừng xếp vào hàng địa chủ. Cũng giống như nhân viên xã vào nhà đếm gà thấy thiếu một con, không tin là chồn bắt mà đưa gia chủ ra kiểm thảo giết lén con gà sản xuất, trái với tinh thần đạo đức cách mạng.
Nhờ ơn trời đất, nhờ ơn ông bà tổ phụ, tôi có tròm trèm dăm ba chữ tuy không đi đến đâu về duy vật biện chứng, lý thuyết Marx. Tôi không dùng những thứ ấy để nhìn những việc xẩy ra chung quanh. Tôi chỉ là ông nông dân có con trâu làm việc trên đồng cạn dưới đồng sâu nay phải từ bỏ nó mà chưa chắc đã an thân.

Cầu mong các thân hữu chia xẻ cái nhìn bình dân của tôi. Tôi không muốn căn nhà bị chiếm đoạt (bị ép mà dâng hiến), tôi không muốn vợ tôi bị xỉ mặt mắng là thứ vợ ngụy, tôi không muốn con mất các quyền học hành ...và tôi biết trên cuộc đời nầy, có những con người - dù không thành công - hy sinh tính mạng trong mục đích làm cho những việc ấy không xẩy ra. Tôi tri ân những người ấy.

Một ai đứng trên bờ nhìn ra đại dương mà thấy trong lòng biển nước có xác của vợ mình, của con mình cùng với cái máy đuôi tôm khi chiếc ghe không chịu nỗi sóng dập; người ấy cũng biết rằng trên mãnh đất đau khổ của quê nhà, có những kẻ - tuy chưa thành công - đã hy sinh cuộc đời trong mục đích làm cho việc ấy không xẩy ra. Hãy biết ơn những người vô danh ấy.
Một ai thấy miếng đất hương hỏa của mình dành xây nơi thờ cúng tổ tiên nay nằm dưới khu nhà tắm cầu tiêu của một dinh thự mới, khi tự an ủi với lý thuyết vô thường, vô sở trụ ... vẫn biết có những kẻ đã hy sinh trong mục đích ngăn chân điều nầy xây ra; họ thất trận, lắm người quên đi.

Tôi đã mời các thân hữu dạo quanh một vùng rất rộng lớn với ý niệm chiến lược cùng vài nét sơ phát của bối cảnh 1954 rồi đi đến cái nhìn rất nhỏ hẹp bình dân, không kinh điển, không học vị. Cũng giống như hình cái phểu lớn trên bé dưới, đầu voi đuôi chuột. Ước mong cái nhỏ nhoi ấy là nhịp thở e ấp, thầm kín, chân thật và có thật. Mỗi cái nhìn riêng tuy nhỏ bé mà sâu sắc cho từng cá nhân. Cọng chung những thể nghiệm ý thức ấy, chúng ta sẽ có một luồng hơi ấm mới, khơi nóng bầu không khí có phần lạnh nhạt vì thời gian và những yếu tố xâm thực từ bên ngoài. Những khẩu hiệu to lớn ồn ào làm điếc tai không ai nghe; những lời sâu sắc từ tốn thì cô đơn, ít ai nghe.

Giữa hai sự thể ấy là những con người sống thực như mỗi chúng ta trực diện những mất mát, những khổ đau cho chính mình, cho gia đình, cho những người chung quanh. Chúng ta không bị xung động bởi bất cứ ngọn gió nào. Chúng ta có những câu hỏi rất người rất đơn giản và giải đáp ngay.
30.4 chấm dứt một sự cố gắng vô song của rất nhiều chiến sĩ trong mục đích tối hậu chận đứng ngày thảm não ấy. Rất tiếc, thiên cơ đã không giúp họ ngăn chận cảnh nước mất nhà tan và giúp chúng ta khỏi gánh chịu những tai ách trong từng hoàn cảnh cá nhân riêng rẻ.

Những hy sinh âm thầm ấy biết kể làm sao cho hết. Nhưng có kể, cũng xin đừng quên những di lụy trực tiếp của sự kiện những người nằm xuống. Đó là những "sư đoàn" cô nhi quả phụ, những thiếu phụ lo cho chồng thương tật, những bà mẹ cưu mang những đứa con trở thành bất túc, những đứa con không cha như nhà không nóc.

Funeral Flowers Wreaths Funeral Flowers

Bức tượng Thương Tiếc đã bị đánh ngã ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Đầu ngàn năm mới, Taliban đã phá hủy hai tượng Phật vĩ đại từ thời A Lịch Sơn Đại Đế (Alexandre le Grand). Hành vi ấy chỉ thỏa mãn sự kiêu căng của lãnh tụ Hồi giáo nầy và thiệt hại kỹ nghệ du lịch tại chỗ; nó không suy siển tinh thần tôn giáo của thế giới và của người theo Phật.

Cũng thế, Taliban VN đã phá hủy tượng Thương Tiếc bên xa lộ Biên Hòa; nhưng họ không thể trục hạ sự thương tiếc trong mỗi chúng ta. Bức tượng tâm thức ấy, ít nhất, mỗi năm được đem ra sơn phết một lần vào ngày mất nước. Bức tượng ấy không có quá khứ, không có hiện tại, không có tương lai; bức tượng ấy không riêng gì của người mặc áo trận mà của mọi người. Trong tượng ấy, có người đã chết, có người đang sống và còn sốngmải


Xuân Đất Khách
Thanh Nam

T lch đu năm rt hng h
M
i hay năm tháng đã thay mùa
Ra 
đi t thu làm ly khách
S
u x hai xuân chng đi chờ.

Trôi gi
t t đông sang cõi bc
Hành trình tr
ơ mt gánh ưu tư
Quê ng
ười nghĩ xót thân lưu lcĐt l đâu ng bui vin du.

Th
c ng mt mình trong ti nhc
D
m dài chân mi bước bơ vơ
Gi
ng như người lính va thua trn
N
m gia sa trường nát gió mưa.

Khép m
t c quên đi chiến sĩ
Làm thân cây c
 gc ven b
Ch
t nghe t đáy hn thương tích
V
ng tiếng kèn truy điu mng xưa.

Ơi hi quê hương, bè bn cũ
Nh
ng ai còn mt gia sa mù
M
t nhau t bui tàn xuân đó
Không m
t tin nhà, mt cánh thư.

Bi
n bit thi gian mòn mi đi
R
i bi tâm s tuyết đan tơ
M
t năm người có mười hai tháng
Ta tr
n năm dài Mt Tháng Tư !


Ch
p nhn hai đi trong mt kiếpĐành cho giông bão phũ phàng đưaĐu thai ln na trên trn thế
Kéo n
t trăm năm kiếp sng nhờ.

Đi ngược h tên cha m đt
H
c làm con tr nói ngu ngơ
Vùi sâu d
ĩ vãng vào tro bi
Thân ph
n không bng đa mãng phu.

Canh b
c chưa chơi mà hết vn
C
 còn nước đánh phi đành thua
Mu
n rơi nước mt khi tàn mng
Ngh
ĩ đt vô cùng giá T Do !

B
ng hu qua đây dăm by k
Đa nuôi cu hn, đa phong baĐa nm yên phn vui êm mĐa nhc nhn lê kiếp sng tha.

Mây nước có phen còn hi ng
Thâm tình vi
n x li như xa
Xuân này 
đón tui gn năm chcĐi bóng mình ta say vi ta.

Sunday, April 1, 2018

  PHÂN ƯU
*** 
 Image result for hoa sen

Chúng tôi vô cùng thương tiếc khi hay tin

Ông NGUYỄN PHÁT QUAN

Đốc Sự QGHC-Khóa 9; CH3

Pháp danh Đức Minh

Cựu Chủ Tịch Hội Quốc Gia Hành Chánh tại Houston Texas

Sinh ngày 1 tháng 2 năm 1942 tại Vĩnh Long Việt Nam

đã mệnh chung vào lúc 6 giờ sáng ngày 30 tháng 3 năm 2018 tại Houston Texas/ USA

nhằm ngày 14 tháng 2 năm Mậu Tuất, 

HƯỞNG THỌ 76 TUỔI

Chúng tôi xin chia buồn cùng chị và tang quyến . Nguyện cầu cho hương hồn của anh Nguyễn Phát Quan được vãng sanh miền Cực Lạc.
Đồng Kính Tiễn Biệt

Ban Chủ Biên Trang Giữ Bình Yên QGHC Hải Ngọai
& Nhóm QGHC Trang Mậu Thân 68 (Trần Cao Lãnh)

Saturday, March 31, 2018

ĐÀO VĂN BÌNH MỘT QGHC SẴN SÀNG NHẬN ĐẦU MỸ VÀO SỌT RÁC VÀ THƯỜNG TRỰC ĐỘI ĐÍT TRUNG CỘNG LÊN ĐẦU..- LÚC NÀO CŨNG MONG MUỐN MỸ SỤP ĐỔ -ĂN UỐNG CỦA MỸ RỒI ĐÁI VÀO BÁT MỸ ....

NÊN GHI NHỚ ĐÀO VĂN BÌNH LÀ ĐỨA GÂN CỔ CÃI BƯỚNG: THÍCH TRÍ QUANG KHÔNG PHẢI LÀ VIỆT CỘNG NẰM VÙNG./-Bỉnh Bút/GBY
===========
Nhật Ký Biển Đông: Chính Trị Vương Đạo, Bá Đạo
Nhật Ký Biển Đông hai tuần cuối Tháng Ba ghi nhận những biến chuyển quan trọng như sau:
Tình hình Hoa Kỳ:
-Tổng Hợp ngày 23/3/2018: Tổng Thống Donald Trump vừa sa thải cố vấn an ninh quốc gia -Tướng McMaster và thay bằng Ô. John Bolton- cựu đại sứ Hoa Kỳ tại LHQ dưới thời Tổng Thống Bush Con khiến dư luận lo lắng vì lập trường “siêu hiếu chiến” của ông này. Theo dõi các buổi đóng góp ý kiến của John Bolton trên Đài Fox News chúng ta thấy ông ta đưa ra những giải pháp thật dễ sợ như phá bỏ hiệp ước hạt nhân với Ba Tư và mở cuộc chiến với quốc gia này, cũng như tấn công luôn cả Bắc Hàn. Ngay cả một số nhà lập pháp Cộng Hòa cũng hợ hãi lập trường “siêu diều hâu” của ông. Các giới chức cao cấp Palestines vừa lên tiếng công kích cuộc bổ nhiệm này vì Ô. Bolton có lập trường bênh Do Thái và thù nghịch với Palestines. Một số nhà bình luận còn cho rằng Ô. Trump sẽ lập lại lỗi lầm của Ô. Bush Con và Ô. Obama với một Ô. Bolton cho rằng những ai thù nghịch với Do Thái và Saudi Arabia đều là kẻ thù của Hoa Kỳ. Cựu Tổng Thống Jimmy Carter gọi quyết định bổ nhiệm Ô. John Bolton là một sai lầm tệ hại (worst mistake) của Ô. Trump.
Chúng ta còn nhớ, khi Cuộc Chiến Iraq do Ô. Bush Con gây ra và trở thành gánh nặng cả về nhân mạng, tài chính và uy tín của Hoa Kỳ kéo dài 15 năm, Ô. Bush Cha trong cuốn hồi ký đã kết án Phó Tổng Thống Dick Cheney, Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld, Cố Vấn An Ninh Condoleezza Rice- là những “con diều hâu” thân cận nhất đã hại đời con trai ông. Trong khi đó Tướng Colin Powell-  bộ trưởng ngoại giao- là người ôn hòa lại cô đơn giữa những người chủ chiến được lòng tổng thống. Thế nhưng chỉ riêng Ô. Bolton nói rằng cuộc chiến tranh Iraq không phải là một sai lầm.
Trong lịch sử nhân loại, khi mình có binh hùng tướng mạnh, mở một cuộc chiến (nôm na là đem quân đánh người ta) thì rất dễ. Chẳng hạn như Quân Phiệt Nhật, Phát-xít Ý, Đức - dễ dàng mở một cuộc chiến toàn cầu nhưng hậu quả ra sao? Hoa Kỳ ngày nay, với sức mạnh vô địch có thể mở ba bốn cuộc đại chiến cùng lúc nhưng rồi hậu quả ra sao? Cuộc chiến Iraq kéo dài 15 năm (2003). Cuộc chiến A Phú Hãn (2001) kéo dài tới bây giờ vẫn chưa chấm dứt. Cuộc chiến Việt Nam mà năm đời tổng thống lao vào, kết thúc năm 1975 nhưng đã để lại một di sản nhức nhối cho Hoa Kỳ nhiều trăm năm sau.
Như thế làm cố vấn an ninh cho tổng thống không phải là “con gà chọi”. Nghe tiếng gáy của con gà khác là xông ra đá liền. Nhiệm vụ của cố vấn an ninh không phải là xúi tổng thống đem quân phong tỏa, cấm vận, phóng hỏa tiễn hay tấn công người ta…mà phải suy tính đến sự an nguy của đất nước, của đồng minh, của thế giới. Phải tham khảo với bộ trưởng quốc phòng, bộ trưởng ngoại giao và theo dõi dư luận, bình luận toàn cầu để có giải pháp tối hảo. Tối hảo cho đất nước là : Không phạm tội ác chiến tranh, không hy sinh thân mạng binh sĩ một cách rẻ rúng, không tạo rối loạn toàn cầu, không gây gánh nặng tài chính cho đất nước và nhất là không tạo một di sản nhức nhối cho tổng thống kế vị, cho đời sau. Tôn Ngô Binh Pháp dạy rằng “dụng binh” là hạ sách. Với sức mạnh quân sự vô địch của Mỹ ngày nay, dùng binh là hạ sách. Răn đe, cảnh cáo, lên án, phối hợp với ngoại giao là thượng sách. Khi tất cả những phương sách này thất bại…lúc đó mới dùng binh.
Thế nhưng đạo Trời rất huyền vi. Hết thịnh lại suy, hết hưng lại phế. Vạn Hạnh Thiền Sư đời Lý có câu kệ:  “Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.” (Thịnh suy như sương mai đầu ngọn cỏ.) Không quốc gia nào thoát khỏi quy luật này. Các đế quốc khổng lồ đều xụp đổ do xã hội ung thối, đồi trụy, chia rẽ, chinh chiến quá nhiều hay do thất trận. Chúng ta hãy chờ xem “Cố vấn Bolton” đưa nước Mỹ đi về đâu?
Chuyện đời thật chéo ngoe. Một ông tướng bốn sao, vào sinh ra tử, ngửi mùi thuốc súng từ tuổi thanh niên thì ngán sợ chiến tranh. Còn một ông già 70 tuổi “trói gà không chặt”…lại ham “đấm đá”. Cũng giống như thanh niên ở thành phố, ngày ngày uống cà-phê, ăn nhậu, tán dóc, nghe nhạc Bolero ủy mị, nghe nhạc Trịnh Công Sơn lãng đãng toàn là “ngón tay em dài, đôi mắt xanh xao,vai em gầy guộc, chốn hoang vu, để rồi hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi...” lại thích mặc đồ lính. Trong khi lính từ mặt trận về, được nghỉ phép thì mừng rơn, chỉ mong cửi bộ đồ nhà binh, vui chơi với gia đình, bè bạn. Đời là thế!

VẪN CÒN ... ẤM ỨC!

 TRONG BÀI CÓ NHẮC ĐẾN LƯU TƯỜNG QUANG TRƯỚC 1975 LÀM VIỆC TẠI TĐS VNCH Ở ÚC - SAU 75 THÌ TỴ NẠN ÚC CHÂU - MẤY CHỤC NĂM QUA LƯU TƯỜNG QUANG VỚI THÀNH TÍCH RẤT TỆ VỚI NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN- VÀ VỚI CÂU TUYÊN BỐ: "VƯỢT BIÊN BẰNG THÚNG" KHÔNG THUA GÌ NGUYỄN HỮU CHÁNH: "VƯỢT BIÊN BẰNG VỎ VỌT- HẾT XĂNG GIỮA BIỂN- THẤY MẤY PHUY XĂNG TRÔI LÊNH ĐÊNH NÊN VỚT LÊN ĐI TIẾP ĐẾN PHI LUẬT TÂN"- TÒAN LÀ NHỮNG TAY XẠO NỔI TIẾNG THẾ GIỚI./-Bỉnh Bút/GBY

============

 VẪN CÒN... ẤM ỨC !
Nguyễn Văn Phước, CH8 & ĐS7.
        Chuyện cũ đã gần 30 năm thế nhưng mỗi khi nhớ lại, nhắc lại vẫn thấy nhớ tiếc, bất mãn.
        Vào đầu năm 1973, lúc đã 36 tuổi đời, 11 tuổi nghề, tôi trở lại trường theo học Cao Học khóa 8 ban ngoại giao.
        Hồi sinh thời, cố giáo sư Viện Trưởng Nguyễn Văn Bông từng tranh đấu cho trường Hành  Chánh đào tạo các ngành nhà nước. Ẩn ý chính trị ? Điều đó không quan trọng. Chỉ biết đây là một đề nghị hợp lý. Bộ Tư Pháp chống đối viện lẽ thẩm phán là những người cần kiến thức chuyên môn luật học. Không biết ý kiến của Bộ Ngoại Giao thế nào ? Có điều chắc chắn là họ muốn bảo vệ cái châsse của họ.
        Từ trước Bộ Ngoại Giao tuyển người như thế nào ? Có thời mỗi vị được cử đi làm Đại Sứ được quyền mang theo một người thân tín để làm bí thư, một gia sư và một người giúp việc nhà. Khi Đại Sứ hồi hương, các người mang theo ở lại rồi dần dần trở thành viên chức Bộ Ngoại Giao các cấp tùy theo trình độ và văn bằng. Đặc biệt thời Đệ Nhất Cộng Hòa một số khoa bản từ nước ngoài được mời về nước phục vụ. Tóm lại việc tuyển dụng có tính cách lẻ tẻ dựa vào tiêu chuẩn khả năng và tín nhiệm. Mãi cho đến thời bác sĩ Trần Văn Đỗ, bộ Ngoại Giao mới bắt đầu tuyển các Thạm Vụ Ngoại Giao một cách hệ thống. Bộ đã mở chừng 4 hay 5 kỳ thi tuyển và thu nhận khoảng 100 nhân viên. Một số ít Tham Vụ gốc dân sự rất xuất sắc có thể kể Lưu Tường Quang từng giữ chức Tổng Thư Ký bộ Ngoại Giao, Cao Xuân Tứ từng trông coi nhiệm sở Hòa Lan.
        Mãi gần 3 năm sau khi bị Cộng Sản ám sát, ước nguyện của giáo sư Bông mới thành.
        Năm 1972, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm ký Nghị Định (?) với hai điểm chính sau đây:
           1. Học Viện Quốc Gia Hành Chánh được giao phó tuyển dụng và đào tạo sinh viên Cao Học gồm các ban:
- Hành Chánh
- Kinh Tế
- Tài Chánh
- Ngoại Giao
- Thẩm Tra Kế Toán
         2. Việc xếp hạng ngạch trật:
- Đối với sinh viên thường: Vào ngạch trật có chỉ số 510 ở ngạch liên hệ. 
- Đối với sinh viên công chức: Thăng một trật và xếp vào ngạch liên hệ có chỉ số tương đương.
        Nghị Định được chiếu hội bởi các bộ liên hệ.
        Việc thi tuyển vào ban Ngoại Giao ra sao ?
        Thi tuyển gồm 2 phần: Viết và Vấn đáp.
        - Phần thi viết có bài nghị luận chính trị, nghị luận tổng quát và bài dịch tiếng Việt ra tiếng Pháp và Anh.
        Đề thi chính trị do Bộ Ngoại Giao đề nghị và Bộ Ngoại Giao cũng là premier correcteur nữa.
      Tôi còn nhớ đề bài nghị luận chính trị: Hãy tìm hiểu nguyên nhân đưa đến việc xích lại (rapprochement) giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Ảnh hưởng của việc nầy đối với các Quốc Gia Á Châu ?
        Tôi chuẩn bị cho kỳ thi nầy chưa bao giờ kỹ hơn. Tôi tìm đọc các tạp chí chính trị như Forreign Affairs revue, Asian studies, Cao Đẳng Quốc Phòng v.v… Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng trong một bài đăng ở Nghiên Cứu Hành Chánh cho rằng Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam sẽ bị hy sinh sau khi Hoa Mỹ bắt tay nhau. Tôi cứ thế mà tán rộng ra cho rằng phen nầy Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, công cụ của Cộng Sản Hà Nội sẽ đi chỗ khác chơi để cho hai anh lớn (Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Sản Hà Nội) nói chuyện thẳng với nhau. Một người bạn tôi lạc quan hơn cho rằng Bắc Việt sẽ bị xóa tên trên bản đồ và Việt Nam sẽ thống nhất với sự lãnh đạo của Miền Nam.
        Thật ra ngày nay các bạn đã biết tài liệu liên quan đến chiến tranh Việt Nam của Mỹ đã được giải mật cho thấy Đài Loan và Việt Nam Cộng Hòa bị hy sinh. Mỹ cho rút khỏi Đài Loan các giàn phóng có đầu đạn nguyên tử. Còn Việt Nam Cộng Hòa chúng ta đã bị tên điếm thúi ngoại giao Kissinger bán đứng bằng hiệp định Paris với những điều khoản thật phi lý. Sau ngày mất nước chúng ta thấy một ông già tiều tụy vừa đi vừa lẩm bẩm: Tổ cha mi thằng Kissinger. Đó là cụ Phạm Văn Nhu, thầy học cũ của tôi ở trường Khải Định, Huế và cũng từng là nghị sĩ Liên Hiệp Pháp và Chủ Tịch Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa.
        Giáo sư Hùng chỉ nói đúng một phần. Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị khai tử nhưng không phải do việc xích lại Hoa Mỹ mà chính bởi cha đẻ của nó là Cộng Sản Bắc Việt. Xin nhắc lại đoạn hồi ký “Memoire d’un Việt Cộng” của Trương Như Tảng, Bộ Trưởng Tư Pháp của cái gọi là chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Khi ngồi trên khán đài xem duyệt binh mừng chiến thắng Miền Nam ngày 2 tháng 5 năm 1975 chờ mãi vẫn không thấy đoàn quân giải phóng bèn hỏi Trường Chinh, Trường Chinh trả lời cộc lốc: Đã được sát nhập rồi.
        Sự ngây thơ của Trương Như Tảng không chỉ có thế. Người ta còn kể là y còn ký sự vụ lệnh cho các nhân viên Bộ Tư Pháp chế độ cũ đi học tập cải tạo nữa.
        - Phần vấn đáp giáo sư Nguyễn Ngọc Huy hỏi những vấn đề chính trị thế giới nóng bỏng vào thời đó. Bà giáo sư Nguyễn Thị Huệ hỏi Pháp văn và một giáo sư nữa (quên tên) hỏi Anh Văn.
        Kỳ thi tuyển gay go. Lúc đầu có 20 người được chọn. Sau vấn đáp chỉ còn lại 10 người trúng tuyển thực thụ trong 400 người dự thi.
        Thành phần giáo sư giảng dạy bao gồm số giáo sư cơ hữu của trường còn có những nhân viên cao cấp của Bộ Ngoại Giao nữa. Thành phần diễn giả ngoại quốc còn phải kể đến các viên chức sứ quán Mỹ và Thẩm Kế Viện (cour des comptes) Pháp. Tôi được cử làm liên lạc viên giữa Trưởng ban Ngoại Giao là giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Bộ Ngoại Giao. Thỉnh thoảng bà giáo sư Huệ còn cử tôi đưa đón các giáo sư khác (professeur-visiter). Chúng tôi quả thật phấn khởi và thích thú lúc đầu. Càng về lâu về dài sự hăm hở bớt dần. Gặp giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, người bạn thân cũ từ thời trường Luật nay trở thành giáo sư trong buổi học đầu tiên anh ta ngạc nhiên: C’est un luxe. Liên tưởng tới cái background của tôi vào lúc đó: Đang chuẩn bị trình luận án tiến sĩ luật, có những connections với Phủ Tổng Thống và các tổ chức đảng phái chính trị. Anh nghĩ xem chỉ cố gắng mài quần trên ghế nhà trường hai năm mà tôi được vào Bộ Ngoại Giao bằng cửa chính với ngạch sứ thần hạng nhì và sẽ có gần 20 năm trong nghề là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Làm gì có chuyện sứ thần? Tham vụ đã là may! Tôi cãi lại: Nghị Định nói rõ mà bạn. Rồi “toi” sẽ thấy. Bọn ngoại giao chúng nó bảo vệ cái lâu đài ấy kỹ lắm. À, mà nếu là sứ thần thật không khéo “moi” cũng bỏ nghề dạy để nhảy vào đó.
        Trong hai năm đi học ấy có quá nhiều biến chuyển về chính trị, quân sự rất bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Một anh bạn cùng khóa nói vui: Điệu nầy không khéo chúng mình trình diện bà Nguyễn Thị Bình tới nơi. Bộ Ngoại Giao lại đổi chủ một cách không bình thường. Ngoại trưởng Trần Văn Lắm đắc cử vào Thượng Nghị Viện ra đi, nhường chỗ cho ông Nguyễn Phú Đức đang là Phụ Tá Ngoại Vụ Phủ Tổng Thống. Chỉ sau mấy tháng giáo sư Vương Văn Bắc thay thế ông Đức.
        Nhân viên Bộ Ngoại Giao xem ra không mấy hoan hỷ với viễn tượng từ nay mỗi năm sẽ có thêm 10 người mới vào ngạch trật thấp nhất sẽ là Tham Vụ hạng nhất. Họ đưa ra những ý kiến kỳ thị như là đám ấy ra trường sẽ được gởi về địa phương giúp đỡ các Tỉnh trưởng về giao tế và nghi lễ, hoặc là họ có thể được về Bộ Ngoại Giao nhưng chỉ phục vụ trong nước mà thôi (sédentaire) giống như cách tổ chức Bộ ngoại Giao Nhật Bản. Mặt khác họ cố tình “downplay” sự có mặt của chúng tôi. Mỗi năm chúng tôi phải đi thực tập tại Bộ Ngoại Giao 2 tháng. Ấy vậy mà phải lần thực tập năm thứ hai chúng tôi mới được Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc tiếp kiến với sự hiện diện của tất cả viên chức cao cấp khác của Bộ. Tôi thay mặt anh em đồng khóa đọc diễn văn rất cảm kích gợi lại những kỷ niệm 15 năm trước chính giáo sư cũng tại chỗ nầy số 6 Alexandre De Rhodes (vốn là Học Viện Quốc Gia Hành Chánh trước khi dời về đường Trần Quốc Toản) đã truyền đạt những kiến thức căn bản về các học thuyết chính trị. Giáo sư Bắc tiếp chúng tôi đặc biệt niềm nở và tỏ ý kỳ vọng vào việc đào tạo viên chức ngoại giao của trường Quốc Gia Hành Chánh. Chúng tôi cũng nhắc nhở nhau trong thời gian thực tập hãy nỗ lực làm việc hầu gây ấn tượng tốt. Và cái nhìn của các cấp chỉ huy bộ đã thay đổi, thuận lợi hơn.
        Thế rồi cũng đến ngày ra trường. Lễ tiếp nhận chúng tôi tại Bộ Ngoại Giao đã được tổ chức trang nghiêm trọng thể. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy thay mặt trường Quốc Gia Hành Chánh (không còn là Học Viện nữa, một thành tích của Đại tá Quách Huỳnh Hà, Tổng Ủy Trưởng Công Vụ) giới thiệu các tân khoa và nói về cách thức đào tạo sinh viên Cao Học Ban Ngoại Giao. Tưởng cần ghi nhận sự kiện hai giáo sư Bắc và Huy vốn là chỗ thân tình không giấu sự ngưỡng mộ và quý trọng nhau. Bọn tôi rất vui mừng và hy vọng mọi chuyện rồi sẽ suông sẻ. Dịp nầy tôi lại được thay mặt anh chị em đồng khóa đọc diễn văn. Có một chút trục trặc nhỏ. Số là ông Đào Nguyên Lãng, Giám Đốc Trung Tâm Huấn Luyện Bộ Ngoại Giao chắc vốn không mấy hảo cảm với chúng tôi. Có thể là với việc trường QGHC từ nay đào tạo viên chức Bộ Ngoại Giao, vai trò của ông bị xuống cấp chăng. Ông ấy muốn xem trước bài diễn văn của tôi để nếu cần thì kiểm duyệt. Tôi không chịu và ông nhượng bộ. Lời phát biểu của tôi vừa cao ngạo vừa khiêm tốn. Đại để tôi nói rằng chúng tôi được đào tạo thành những cán bộ chứ không phải là công chức ngoại giao với tinh thần dấn thân làm sáng tỏ chính nghĩa quốc gia ở nước ngoài. Kinh nghiệm và kiến thức chúng tôi còn yếu kém cần đến sự dìu dắt chỉ vẻ của các bậc đàn anh.
        Giáo sư Viện trưởng Nguyễn Quốc Trị mở tiệc tiếp tân giới thiệu chúng tôi với quan khách, đặc biệt có ông Đại sứ Pháp Mereillon, ông Josiah Bennet, sứ thần đại diện cho Đại sứ Martin (chắc đang lúc dầu sôi lửa bỏng) và Ngoại trưởng Vương Văn Bắc. Mọi chuyện dường như tốt đẹp quá phải không các bạn ? Thế nhưng thấy vậy mà chưa phải vậy!
        Nhưng rồi chúng tôi được bổ về Bộ Ngoại Giao vào tháng 1 năm 1975. Chỉ hai tháng sau các bạn đồng khóa thuộc các ban khác được bổ dụng vào các ngạch liên hệ ở trật chỉ số 510 nếu là sinh viên thuần túy và ở trật liền trên nếu là sinh viên gốc công chức. Riêng Bộ Ngoại Giao thì cứ trì hoãn mãi. Họ bị kẹt việc bổ dụng chúng tôi vào ngạch sứ thần và 2 sinh viên công chức khác vào ngạch cố vấn. Các sinh viên thuần túy được chấp nhận bổ dụng vào ngạch Tham Vụ Ngoại Giao hạng nhất. Đó cũng là một sự nhân nhượng lớn đối với họ rồi.
        Tôi đến gặp giáo sư Trị than thở. Ông nhỏ nhẹ nói rắng: Chúng ta đang mở được cánh cửa rồi, các anh chị cứ thong thả đi vào. Bên đó còn có anh Trần Ngọc Diện cũng là anh em hành chánh mình cả, lo gì. Tôi lại chạy đến anh Lê Công Truyền lúc nầy đã là Phụ Tá Tổng Ủy Trưởng Công Vụ. Đường vào nhà anh quá tối tăm khuất nẻo thêm vào mưa như thác. Sau khi nghe trình bày sự việc ở ngoài cổng nhà, anh thản nhiên: Đúng rồi. Anh mới vào nghề mà đòi làm “sứ thần” sao được! Nước mưa ngấm vào người làm tôi thấy lạnh ấy vậy mà không lạnh bằng câu nói của anh. Ô hay nào tôi có đòi làm sứ thần bao giờ. Nghị Định Thủ Tướng quy định như vậy. Thú thật tôi rất bất bình cách trả lời của một người đang nắm giềng mối công vụ.
        Một hôm ông Lưu Tường Quang, Tổng Thư Ký cho gọi tôi lên văn phòng nói chuyện. Sau những câu xã giao, ông đi vào đề về việc bổ dụng những người mới gốc công chức có chỉ số cao hơn 510. Ông nói rằng trong nghề ngoại giao thường người ta hay dùng cách thức thỏa hiệp để thương lượng. Vậy tôi đề nghị bổ dụng anh vào ngạch Tham Vụ hạng nhất sau 3 năm, có nghĩa là chỉ sau một năm làm việc, anh sẽ tự động thăng ngạch Cố Vấn hạng 3. Tôi trả lời: Đúng, trong thương lượng có thỏa hiệp. Nhưng đây là văn kiện pháp quy thì chỉ có thi hành mà thôi.
        Trong lúc chờ đợi, lương bổng của chúng tôi như sau: Chưa có gia đình lãnh khoản 20 ngàn đồng, có gia đình 30 ngàn đồng thua lương chính thức không có phụ cấp chức vụ đến 20 ngàn đồng.
        Tôi chuẩn bị kiện Bộ Ngoại Giao ở Tham Chính Viện thì biến cố 30 tháng 4 xảy đến. nước mất tất cả sá chi cái ngạch trật. Khi vào tù, một anh Giám Đốc Nha cũ nói  tùy theo kinh nghiệm và để an ủi hay thật lòng với tôi: Việc Bộ không bổ dụng anh vào đúng ngạch trật không thể giải thích được. Đáng lẽ cứ xếp anh vào ngạch sứ thần nhưng cử anh vào chức vụ tùy theo kinh nghiệm và khả năng. Trong tù tôi khá gần gũi với giáo sư Nguyễn Duy Xuân. Hẳn các bạn khóa 7 còn nhớ giáo sư lái Floride Sport dáng dấp rất hào hoa dạy chúng ta môn kinh tế thế giới. Thế mà những năm trong tù bệnh hoạn đã lấy đi nét tinh anh của thầy. Có lần thầy nói với tôi: Nầy anh Phước, tôi nghĩ anh sẽ được về trước tôi. Nếu vượt thoát tới Mỹ, anh cố theo lại nghề ngoại giao. Hãy tìm đến trường Fletcher thuộc Đại Học Tuffs chuyên dạy về ngoại giao. Tôi tin anh có thể thự hiện được lòng mong mỏi của tôi vì anh hiếu học và có khả năng. Tôi cảm kích những khích lệ của thầy nhưng trong thâm tâm tôi thấy chuyện đó chẳng khác chi nằm mơ giữa ban ngày. Tù đến năm thứ 10 rồi còn biết ngày nào ra. Ra rồi thì làm sao mà đi ? Mà đi thì liệu có thoát nổi không ? Và rồi nếu có tới nước Mỹ đi nữa thì trình độ của mình làm sao với tới cương vị của một nhà ngoại giao đại diện cho Hoa Kỳ tại hải ngoại.
        Tôi được tin thầy Xuân mất trong tù khi vừa tới đất Mỹ. Rất tiếc là tôi không có dịp báo cho thầy vui là tình cờ tôi đã được vào Bộ Ngoại Giao Mỹ! Số là khi tốt nghiệp Cao Học Công Tác Xã Hội (Master of Social Work) tôi được tuyển dụng bởi cơ quan ICMC/JVA làm việc tại trại tị nạn ở Phi Luật Tân. Cơ quan ICMC/JVA là một cơ quan kết ước với State Department. Cấp chỉ huy tối cao của tôi là Đại Sứ Mỹ ở Manila. Tôi được cấp thẻ công vụ như là một “special case worker” của Tòa Đại Sứ Mỹ. Trong ID ảnh của tôi có background lá cờ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Tôi được lui tới chỗ giải trí của ngoại giao đoàn. Tôi được mua hàng PX (vì là cháu ngoại nên chỉ giới hạng vào thức ăn, mỹ phẩm, sách báo). Và quan trọng hơn hết là được những nụ cười tươi mời mọc bởi các kiều nữ Maní chen chúc bao quanh Tòa Đại Sứ hàng ngày bất kể thời tiết với hy vọng lọt mắt xanh của một chàng trai Mỹ gốc xoài, mít, hay ổi.
        Tôi cứ kể như cái duyên ngoại giao cũng không đến nỗi triệt buột. Ấy vậy quên thì thôi, còn nhớ lại cái chuyện sứ thần của 30 năm trước thì vẫn còn… ấm ức… cả đời.
        Bạn nào đọc xong bài viết nầy xin gọi cho tôi ở số (209) 957.2665 hoặc để chửi tôi: Lẩm cẩm quá mầy ơi, Kissinger nó bán đứng Miền Nam một cách tức tưởi mà mầy không ấm ức hay sao ?  Hoặc để chia xẻ nỗi ấm ức với tôi: Đến thời mạt vận rồi, nên áp dụng luật lệ tùy tiện như vậy đó. À dù sao so với luật rừng của Cộng Sản vẫn còn khá hơn nhiều. Thái độ nào của các bạn tôi cũng hoan nghênh cả.
        Nguyễn Văn Phước