Nhóm 1% QGHC - Thông tin nội bộ QGHC Tỵ Nạn Hải Ngoại. Thiết lập từ 2008- Email Liên Lạc: cnguyqghc@gmail.com

Friday, November 23, 2018

Điệp viên – Phạm Thành Châu

Truyện ngắn “Vợ Chồng Điệp Viên” tác giả Phạm Thành Châu – ĐS14.
Học xong trung học, tôi thi vào Đại Học Sư Phạm ban Anh Văn. Trong thời gian là sinh viên tôi còn làm việc cho số 3 Bạch Đằng. Đó là cách nói gọn của phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa. Tôi làm tình báo vì có máu phiêu lưu, thích chuyện mạo hiểm, sau nầy lại thêm mối thù Việt cộng giết cha tôi. Ông già tôi là chủ một nhà máy xay lúa nhỏ ở vùng quê tỉnh Bạc Liêu. Vì là vùng bất an ninh nên phải đóng thuế cho việt cộng, ấy vậy mà cũng bị chúng nửa khuya đến gõ cửa đem ra đồng bắn bỏ. Cả mấy năm sau, tôi cố tâm điều tra mới biết rõ thủ phạm là một tên nằm vùng trong xóm, chỉ vì một xích mích nhỏ, hắn dẫn đồng bọn về giết người. Dĩ nhiên tôi trả thù. Sau khi tốt nghiệp sư phạm, trong lúc chờ sự vụ lệnh, tôi lẻn về nhà trốn trong phòng không cho hàng xóm biết, đến khuya tôi đến nhà hắn, nằm sau hè chờ. Ở thôn quê không có phòng vệ sinh trong nhà, khi cần thì ra sau vườn. Qua đêm thứ hai hắn mở cửa ra đi tiểu, tôi chĩa súng vào lưng hắn.
– Đồng chí ra ngoài kia trả lời trước tổ chức về vài việc cần gấp.
Hắn sinh nghi định phản ứng, tôi giáng cho một bá súng vào đầu, hắn bất tỉnh, tôi cột chân tay hắn, cõng trên lưng, ì ạch băng đồng ra chỗ bọn chúng giết cha tôi. Tôi khai thác tận tình cho đến khi hắn thú nhận tội giết cha tôi, lúc đó tôi mới cho hắn biết sự thật. Hắn van lạy, nhưng vô ích, hình ảnh cha tôi chết oan ức, mắt vẫn mở trừng trừng khiến tôi sôi gan. Sau đó gia đình tôi bán nhà máy xay lúa, bán nhà lên Sài Gòn ở.
Tốt nghiệp xong tôi được điều đi các tỉnh dạy học. Sau mỗi công tác tình báo dù thành công hay thất bại tôi lại chuyển qua tỉnh khác.
Câu chuyện bắt đầu khi tôi được giao cho việc theo dõi một cô thợ may ở ngoại ô một thành phố ven biển miền Trung. Nguyên nhân là thỉnh thoảng lại có truyền đơn rải vào buổi sáng trên con đường vào thị xã. Đây là con đường mà đa số nông dân thường đem nông sản vào chợ bán. Họ chở bằng xe đạp, xe lam hay xe bò. Sáng sớm nào cũng có cảnh sát rình ở đó nhưng chẳng thấy ai đáng tình nghi cả. Sau phải cho người nằm sát lề đường mới khám phá ra một cô gái đi xe đạp chở rau muống phía sau, dưới chân chỗ bàn đạp để mớ truyền đơn, cứ dỡ nhẹ chân là truyền đơn rơi xuống đường khó mà thấy được nhất là ở quãng đường tối. Qua điều tra đây là cô thợ may nhà ở vùng ngoại ô, sát địa giới thành phố. Sau nhà là một vạt ruộng nhỏ trồng rau muống, mỗi sáng cô chở rau vào chợ bán sỉ cho bạn hàng rồi về ngay. Cô sống với một mẹ già hơn sáu mươi tuổi. Gọi là tiệm chứ thực sự là một bàn máy may phía trước, cách một tấm vách cót là giường ngủ của hai mẹ con vừa làm chỗ thử áo quần. Gia đình nầy mới từ một quận miền núi về hơn một năm nay. Theo báo cáo, trước đó cô là nữ sinh trung học, sau theo nghề may. Tiệm của cô khá đông khách vì cô hiền lành, vui vẻ lại lấy công rất rẻ, có lẽ đây là trạm giao liên hơn là cơ sở kinh tài của địch.
  (Cô thợ may và bà mẹ)
Nhiệm vụ của tôi là tìm cách tiếp cận cô để theo dõi. Tôi sẽ đóng vai một kẻ si tình cô, gặp gỡ cô mà bọn chúng không thể nghi ngờ, hoặc tốt hơn nữa sẽ được móc nối làm việc cho chúng. Một buổi sáng Chủ Nhật tôi chạy xe gắn máy gần đến nhà cô thì xe chết máy phải dừng lại sửa. Tôi vào tiệm xin cô miếng giẻ rồi loay hoay mở máy ra chùi, thay bu gi, tháo bình xăng con… toát mồ hôi mà xe vẫn không nổ. Tôi xin cô miếng nước uống và ngồi trước hiên nhà cô hỏi vài câu vơ vẩn rồi dẫn xe về. Qua hôm sau tôi đem một xấp vải đến nhờ cô may cho một áo sơ mi. Lần nầy tôi được cô mời vào nhà vì tôi là khách. Thế rồi, thỉnh thoảng tôi lại nhờ cô may một thứ gì đó và tôi ngập ngừng nói là tôi làm thế để được dịp gặp cô, không gặp tôi nhớ. Cô có vẻ bất ngờ, nhưng yên lặng. Những lần sau cô lại càng giữ ý, nhưng tôi bắt gặp trên đôi mắt cô mỗi khi thấy tôi, long lanh niềm vui. Trong lúc trò chuyện tôi cho cô biết về gia đình tôi rằng ông già tôi tham gia mặt trận bị quân đội Quốc Gia hành quân bắn chết. Thỉnh thoảng tôi đi chùa nghe thuyết pháp hoặc tham gia mít tinh, tôi phát ngôn bừa bãi ra người bất mãn chế độ. Sau một thời gian lạnh lùng, giữ kẽ, cô có vẻ thân thiện, vui vẻ hơn. Kẻ thù trong bóng tối đang kéo dần con mồi về phía chúng, tôi biết mình đã được để ý, nhưng chỉ đến đấy thì hầu như bế tắc, tôi không biết được những gì chúng tôi cần.
Một sáng Chủ Nhật, như thường lệ tôi đến thăm cô, nhưng đến nơi chỉ thấy một đống tro tàn đang bốc khói. Thì ra, không hiểu vì sao lúc khuya lửa bắt cháy, hai mẹ con chỉ kịp chạy thoát thân. Tôi khuyên nhủ nhưng cô vẫn lắc đầu lo lắng.
– Tiền mua bàn máy may, mua miếng đất em trả chưa hết nợ, còn quần áo của khách nữa, họ nói bao nhiêu phải cố mà trả. Nhưng em còn đồng nào đâu!
Tôi hứa với cô là sẽ hết lòng tìm cách giúp đỡ. Thế rồi tôi về bán chiếc xe gắn máy. Nhờ bà con chung quanh phụ giúp nhặt nhạnh những miếng tôle còn xài được, mua ít vật liệu, dựng lại căn nhà mới cũng khang trang, ngoài ra còn mua được một bàn máy may mới nữa. Chỉ trong một tuần tôi lo toan cho cô chu toàn. Từ đấy thái độ của cô đối với tôi thay đổi hẳn. Chúng tôi thường đưa nhau đi xem hát, ăn quà rong, đôi khi cô đến nhà trọ thăm tôi nữa. Mỗi khi đi với nhau cô thường chải chuốt, thoa chút phấn hồng trên má, trông cô đẹp hẳn ra, như lột xác từ một cô thợ may lọ lem thành một nàng tiên, nhưng đối với tôi, đi bên cô, nhất là những chỗ vắng, tôi có cảm giác rờn rợn, tưởng như mình đang đứng trước đỉnh đầu ruồi của một họng súng nào đó trong bóng tối. Vì nghề nghiệp, lúc nào tôi cũng cảnh giác, ngụy trang, dọ dẫm tìm một chỗ an toàn phía sau lưng.
Một lần cô ghé nhà trọ thăm tôi, có một bà hàng xóm biết cô là thợ may đến năn nỉ cho con gái học nghề may. Cô là học sinh thi hỏng tú tài, muốn theo nghề may để phụ giúp gia đình. Nghe tôi nói thêm vào cô ta có vẻ bằng lòng nhưng hẹn ít hôm nữa mới trả lời, có lẽ chờ quyết định của tên đầu sỏ, chỉ huy cô. Tuần sau cô đồng ý nhận học trò. Được độ ba tháng nhờ sáng ý, cô bé học nghề khá tiến bộ. Tiệm may cũng đông khách hơn trước. Một hôm tôi gọi riêng cô bé hàng xóm qua nói chuyện. – Em học nghề may với chị Lan đến đâu rồi?. – Em cắt chưa vững nhưng may thì khá lắm, khách nào cũng khen đường chỉ em thẳng, mịn và đẹp. – Có lẽ cần một máy may nữa mới phụ chị Lan kịp giao hàng cho khách. – Em cũng nghĩ vậy nhưng không có tiền. Tôi tâm sự với cô học trò: – Như em biết, thầy và chị Lan yêu nhau, dự định sẽ làm đám cưới, nhưng thầy còn ngại hình như chị Lan đang yêu ai nên thầy nhờ em giúp thầy tìm hiểu chị Lan xem có ai đến thân mật chuyện trò với chị ấy không? Em sẽ chẳng làm gì cho chị ấy nghi ngờ. Thầy có cái máy nầy, sẽ giấu dưới xách tay của em, khi đến nơi, em chỉ cần mắc xách tay sau lưng chỗ ngồi của em sát vách với phòng thử áo quần. Chỉ thế thôi, đừng cho bất cứ ai biết chuyện nầy. Nếu chị Lan hay ai bắt gặp cứ bảo rằng đó là máy thu thanh, thầy sẽ chỉ em cách mở nghe đài phát thanh. Em cũng đừng cho chị ấy biết là thầy cho em mượn tiền mua máy may, sợ chị nghi ngờ, ghen tuông phiền phức.Thế là chúng tôi nghe rõ những trao đổi, bàn bạc với nhau của bọn chúng trong phòng thử quần áo. Một bộ phận khác rình thu hình những khách hàng khả nghi và tiến hành điều tra. Chúng tôi gần như nắm vững tất cả những tên nằm vùng, cơ sở kinh tài, nơi chứa chấp những tên xâm nhập nữa, nhưng tên đầu sỏ vẫn chưa tìm ra!?
Trong nghề nầy, một chút sơ ý là chết. Như cô thợ may, bị chúng tôi theo dõi mà không hay biết. Cô với tôi như hai tay nhu đạo đang lừa nhau để vật đối thủ xuống, cô đã bị thất thế hoàn toàn, nhưng tôi chưa ra tay và chờ cô ra đòn. Có thể cô làm bộ chuyện trò, hỏi han để tìm hiểu tôi hoặc rủ tôi một chiều nào đó ra vùng quê hóng gió tâm sự…
Nhưng tuyệt nhiên chuyện đó không xảy ra. Cô lúc nào cũng ít nói, dịu dàng, nhưng như thế lại càng làm tôi e ngại và thấy cô rất bản lĩnh, rất nguy hiểm. Đi bên cô tôi cố làm vẻ sung sướng, hạnh phúc nhưng thật sự tôi có cảm tưởng cô như con rắn độc, chỉ một tích tắc cô hành động là đời tôi tàn ngay. Mạng tôi đổi mạng cô thì không xứng. Thế nên tôi chẳng hứng thú gì trong vai trò nầy cả. Tôi được lịnh phải tiến xa hơn tức là phải chung đụng xác thịt để giữ chặt con mồi, nhưng tôi không làm được. Dù cô có yêu tôi thực hay giả vờ tôi cũng quyết không đụng chạm đến nơi thiêng liêng đó của người con gái. Đó là điểm yếu của một tên tình báo non tay nghề như tôi.
Mùa hè năm đó, đối phương lên phương án tấn công tỉnh. Mẻ lưới được tung ra. Chúng tôi dự định hành quân vào lúc khuya. Buổi chiều cô bé học may về báo cho tôi biết là lúc trưa có một ông sư khất thực đến trước nhà, cô Lan ra cúng dường, ông sư lầm thầm tụng kinh chúc phúc như mọi khi, nhưng lúc quay vào, thấy mặt cô tái mét, người cứ run lên bần bật… Chúng tôi đề nghị cảnh sát hành quân sớm hơn dự định. Thế là cả bọn bị tóm, kể cả chính tôi cũng bị cảnh sát đến gõ cửa, còng tay, đẩy lên xe cây.
Thường thì sau khi vở kịch đã hạ màn như thế, tôi thảnh thơi nghỉ ngơi rồi nhận công tác mới. Nhưng không hiểu sao hình ảnh cô ta vẫn nguyên vẹn trong đầu tôi. Khi cô bị bắt, bị giam giữ, lòng trắc ẩn của tôi lại nổi lên. Đàn bà, con gái, trẻ con không có chỗ trong chiến tranh, họ phải được ở hậu phương, phải được thường xuyên che chở, bảo vệ. Một cô gái vô ý vấp ngã thấy đã động lòng rồi, huống gì cô thợ may hiền lành, dịu dàng kia đang bị nhốt trong nhà giam sau những song sắt như một con thú đã bị săn bắt, chờ ngày bị đem xẻ thịt. Tôi đã nhiều lần bí mật nhìn cô ủ rũ ngồi ở một góc phòng giam, héo úa như không có linh hồn, không còn cảm giác, suy nghĩ gì. Tương lai là chết rũ trong tù, tình yêu, hy vọng của tuổi thanh xuân coi như đã chấm hết. Đối với cô, tôi thấy thật bất nhẫn, lừa gạt một cô gái dù cô ta được điều khiển từ trong bóng tối. Và khi cảm tưởng cô không còn là kẻ thù của tôi nữa, sự cảnh giác đã được gạt bỏ, như bụi bặm trên một bức tranh đã được chùi sạch, để lộ ra hình ảnh trong sáng, dịu dàng của cô trong tâm trí tôi. Thế nên tôi đề nghị thả cô ra để cho những con mồi khác đến móc nối lại với cô.
Từ phòng giam, tôi lại được gọi lên để đối chất về sự liên hệ giữa tôi và cô. Chúng tôi xác nhận có yêu nhau nhưng chẳng biết gì về việt cộng cả và anh cảnh sát thẩm vấn (vờ) tin ngay là thật, anh hứa sẽ thả chúng tôi ra và anh bỏ đi làm giấy tờ. Tôi đến ngồi gần cô cầm lấy tay cô, cô ngước nhìn tôi và lắc đầu, có lẽ cô cho rằng lời anh thẩm vấn viên chỉ là cái bẫy, nhưng tôi cố tình cho cô hiểu tôi là người có thẩm quyền, tôi cứu cô ra vì tôi yêu cô.
– Như em đã nghe lúc nãy, anh xin bảo lãnh em và chịu trách nhiệm liên đới về những hành động của em sau nầy. Nếu em thương yêu anh thực lòng thì em hãy lánh xa những gì có thể gây nguy hiểm cho em. Em còn mẹ già phải nuôi dưỡng, rồi em sẽ lập gia đình, có con cái, sống hạnh phúc như bao người bình thường khác. Đừng dại dột nữa, không phải anh sợ bị vạ lây nhưng nếu em gặp chuyện không may anh sẽ đau khổ lắm. Anh sẽ thu xếp cho em và mẹ em vào Sài Gòn sống lẫn trong đồng bào thì sẽ không có ai quấy rầy em nữa. Chúng mình sẽ làm đám hỏi và khi nào anh vận động xin về dạy gần Sài Gòn sẽ làm đám cưới.
Cô cúi đầu yên lặng nghe, rồi cô nắm tay tôi đặt lên đùi cô, siết nhẹ. Một giọt nước mắt rơi trên tay tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cô đã hiểu ý tôi. Cô viết cho mẹ cô một lá thư, dặn bán nhà để chuẩn bị về quê, chỉ giữ lại bàn máy may. Sau đó chúng tôi lặng lẽ về Sài Gòn. Nhờ bạn bè giúp đỡ, tôi tìm mua được một căn nhà nhỏ ở chợ Cây Quéo, góc đường Hoàng Hoa Thám, Ngô Tùng Châu Gia Định. Dĩ nhiên việc theo dõi cô không phải đã chấm dứt.
Công tác của chúng tôi thường được tình báo Mỹ yểm trợ. Người Mỹ rất hào phóng nhưng cũng rất nguyên tắc, họ đã vui vẻ trả lại tiền cho tôi mua lại chiếc xe gắn máy, trả cả những chi phí lặt vặt như đưa cô đi xem hát, ăn quà rong. Nhưng sau cuộc hành quân, hồ sơ coi như đã đóng. Lần nầy tôi lại bán xe, vay mượn thêm để lo cho cô mà không biết khi nào mới có tiền mua lại xe khác.
Suốt mấy tháng hè, tôi về Sài Gòn với gia đình. Buổi chiều tôi thường ghé thăm cô, có khi tôi ăn cơm tối với gia đình cô. Sau bữa ăn, bà mẹ dọn dẹp chén đĩa, còn cô thì xin phép đi tắm. Chợ Cây Quéo nằm trong một đường hẻm, sau khi tan chợ chiều, trở thành vắng lặng như ở một vùng quê. Sau nhà cô có một sân vuông nhỏ, rào kín chung quanh, tôi thích ra đấy ngồi xuống một ghế gỗ dài để chờ cô. Cô có một thói quen là sau khi tắm cô không mặc nịt ngực, nên qua lần vải mỏng, đồi ngực cô thẳng đứng lên, lồ lộ như hai mụt măng tre vừa chồi lên khỏi mặt đất. Cô ngồi cạnh tôi, nghiêng đầu dùng khăn vò mái tóc cho khô, chải nhẹ cho tóc thẳng, xong cô ngửa người vuốt mái tóc về sau lưng, rồi cô nhìn tôi mỉm cười. Tôi yên lặng ngắm cô, tưởng như thấy rõ làn da mịn màng, thơm tho của thân thể cô… Sau đó chúng tôi có một thứ quà rong như chè hay trái cây để vừa ăn vừa chuyện trò đến khuya mới chia tay.
Sau kỳ nghỉ hè tôi được chuyển ra Huế dạy học, tôi viết cho cô một lá thư dài và hẹn Tết sẽ về xin làm đám hỏi. Tính cô ít nói, ngay cả thư trả lời chỉ vỏn vẹn mấy câu “Được thư anh, em khóc mấy hôm nay vì vui mừng. Cám ơn anh đã hiểu em và lời hứa của anh lần nầy em tin là thật, bằng trái tim và cả cuộc đời em”.
Khoảng cuối năm đó tôi xin phép về Sài Gòn, khi đến nhà cô tôi ngạc nhiên thấy nhà đã sửa sang lại tươm tất. Cô dẫn tôi ra phía sau khoe một căn phòng vừa mới được xây thêm. – Mẹ ngủ phòng ngoài kia, em ngủ trong nầy. – Còn anh thì nằm dưới đất?! Cô đỏ mặt nhưng sung sướng. – Anh với em phòng nầy chứ.
Lễ hỏi chúng tôi diễn ra đơn giản, kín đáo. Gia đình tôi cứ tưởng tôi sẽ lập gia đình với một cô nữ sinh nào đó, không ngờ là một cô thợ may. Chẳng phải họ kỳ thị hay giai cấp gì mà theo lệ thường, thầy giáo rất dễ chọn vợ đẹp trong trường mình dạy. Nhưng khi gặp lần đầu, mọi người đều thích cô ngay. Cô vừa hiền vừa đẹp một cách thùy mị. Mẹ tôi cứ mẹ mẹ con con với cô ngọt xớt, các cô em gái tôi thì tíu tít hỏi han, trò chuyện rất thân mật khiến cô bối rối, vụng về vì cảm động. Từ đó gần như ngày nào tôi cũng đến nhà cô, đôi khi ngủ lại nữa, nhưng chúng tôi đã hứa với nhau phải giữ gìn, để dành cho ngày hôn lễ. Cô có những suy nghĩ lẩm cẩm rất đàn bà. Cô thêu những áo gối có hình quả tim, tên tôi và tên cô lồng vào nhau, hình đôi chim đang bay, rồi cô phân vân về tên của những đứa con trong tương lai. Tôi chế giễu thì cô giận, nhưng thâm tâm cô rất vui sướng với giấc mơ đơn giản đó.
Tôi bàn với cô vài tháng nữa sẽ làm đám cưới, nhưng rồi đầu năm bảy lăm miền Nam bắt đầu sụp đổ từng mảng, tất cả tan rã như bọt nước. Người ta ùn ùn chạy về phía Nam, tôi phải nấn ná lo tiêu hủy hồ sơ, phân tán mạng lưới nên vào đến Đà Nẵng lại đành quay về Huế vì miền Trung đã rơi vào tay đối phương rồi. Kẻ thù hình như chưa biết gì về tôi cả ngoài cái vỏ bọc thầy giáo trung học. Chúng bắt đầu gọi các cô thầy đến khai lý lịch và như đang sắp xếp mở cửa các trường học.
Thế rồi khoảng cuối tháng năm, năm bảy lăm, nửa khuya, chúng đến vây nhà trọ, gõ cửa, còng tay tôi dẫn ra xe. Thoạt nhìn, ngoài chiếc xe cảnh sát chở đầy bộ đội tôi còn thấy một xe mang số ẩn tế Sài Gòn, tôi biết  ngay bọn chúng đã tìm ra chính xác tông tích tôi. Nhưng tại sao trung ương lại không hủy hồ sơ?
Ngồi kèm tôi là hai tên bộ đội còn trẻ mang súng AK. Phía trước, bên cạnh tài xế là một người đàn bà. Xe chạy ra khỏi cửa Thượng Tứ, qua cầu Trường Tiền đến đường Duy Tân, chiếc xe chạy trước quẹo vào ty cảnh sát (cũ), còn xe chở tôi chạy thẳng, hướng về quốc lộ. Tôi đoán chúng đưa tôi về Sài Gòn khai thác. Tôi dự định thoát thân, nhưng đến gần phía Nam tôi mới hành động. Nghĩ thế nên tôi buông thả, thiu thiu ngủ dưỡng sức. Dọc đường xe phải ngừng ở các nút chặn, tên tài xế cũng là bộ đội trình giấy và nói gì đấy, ánh đèn loang loáng vào xe, rồi xe lại tiếp tục. Đến Quảng Ngãi trời đã rạng sáng, tôi lơ mơ mở mắt nhìn quanh. Bỗng tôi lạnh người khi nhận ra người đàn bà ngồi phía trước là cô thợ may, vợ sắp cưới của tôi. Hóa ra chúng tôi đã lầm trong điệp vụ vừa kể, tên đầu sỏ là cô ta chứ không phải gã thầy tu khất thực. Tôi cay đắng cười thầm mình thua trí một người đàn bà, cô đã ngụy trang một cách tài tình, không chỉ đánh lừa chúng tôi mà còn đánh lừa cả đến lũ chân tay của cô. Nhớ lại những ngày chúng tôi bên nhau, tôi sượng sùng, xấu hổ với cô. Cô đã đóng một vai kịch rất xuất sắc, rất bản lĩnh, tôi vẫn chỉ là một con mồi ngây thơ. Ấy vậy mà tôi cứ tưởng tình yêu chân thành của tôi đã cảm hóa được cô. Giờ đây cô ngồi đó, lạnh như tiền. Cô đang nghĩ gì về tôi, một tên điệp viên hạng bét, ngây ngô, lãng mạn tiểu tư sản?
Xe đến Bình Định, ghé vào một quán cơm bên đường, tôi được tên bộ đội mở còng nhưng dặn “Cần gì nói tôi, giữ khoảng cách năm bước, đến gần hay xa hơn, sẽ bị bắn bỏ” Tôi được dẫn vào ngồi một bàn ở một góc quán, mấy tên bộ đội ngồi hai bên, còn cô ta thì ngồi riêng. Sau bữa ăn, lúc trả tiền cô lôi ra một xấp bạc mới tinh, rút vài tờ vất đấy, đứng dậy, không lấy tiền thối. Tôi cố tỏ ra sợ sệt và ngoan ngoãn để chúng tin, hy vọng đến chiều tối nếu cũng ăn uống như thế nầy tôi sẽ bỏ chạy rất dễ dàng và bóng đêm sẽ che chở cho tôi. Nhưng tôi đã lầm, xe chạy suốt đến sáng, đến ngã ba Hàng Xanh theo đường Bạch Đằng, rồi Chi Lăng, Ngô Tùng Châu và vào hẻm chợ Cây Quéo. Cô vào nhà một lúc lâu mới đi ra với bà mẹ. Hai mẹ con ngồi phía trước, xe lại tiếp tục trở ra xa lộ đến Biên Hòa quẹo hướng Vũng Tàu. Tôi đoán chúng sẽ truy tôi về công tác ở Vũng Tàu, Long Hải trước đây hoặc giao cho lũ nằm vùng, nội tuyến đã bị tôi đưa đi tù, và chúng sẽ mặc sức trả thù. Đến Vũng Tàu, ghé mua mấy ổ bánh mì thịt, xe vào một khách sạn hạng trung bình. Sau khi ăn uống, làm vệ sinh, tôi lại bị còng tay cho vào phòng riêng, phía ngoài là hai tên bộ đội canh cửa. Tôi nghe cô ta dặn hai tên gác là phải cảnh giác cao độ với tên địch nguy hiểm đó (là tôi), và cô đến ủy ban quân quản có chuyện cần, sẽ về ngay. Tôi mệt mỏi lăn ra ngủ một giấc lấy sức, dự định tối nay leo cửa sổ trốn đi. Cái còng không thành vấn đề, một cọng thép nhỏ là xong, và cọng thép đó đang nằm trong sợi dây đồng hồ mà tôi đã có được lúc tôi đòi đi tiểu ở hàng cơm ở Bình Định. Nhưng đến gần tối, sau khi được ăn một ổ bánh mì nữa, chúng lại còng cả chân tôi vào giường và hai tên bộ đội ngồi ngay trong phòng tôi, thay phiên nhau lõ đôi mắt cú vọ canh chừng tôi. Thế là hết đường trốn thoát! Nhớ lại thời gian hứa hôn chúng tôi sống bên nhau, cô đã dần dần hiểu tôi, trong sự săn sóc cô đón ý tôi rất tài. Lúc đó tôi sung sướng nghĩ rằng mình có được cô vợ toàn tâm toàn ý, bây giờ chính cái toàn tâm toàn ý kia lại hại tôi. Cô đã thấy được không sai chạy những gì tôi nghĩ trong đầu, dù chỉ vừa thoáng qua là cô đề phòng ngay.
Tối đó độ hơn mười giờ, tôi được dẫn ra xe, vẫn đủ sáu người như trước. Xe chạy loanh quanh trong thành phố một lúc rồi hướng ra Bãi Sau. Trời đêm đầy mây, lạnh kinh khủng, miền Nam chưa bao giờ lạnh như năm đó, đường vắng tanh, lờ mờ ánh đèn, tiếng sóng vỗ rì rào, buồn bã. Xe chạy đến cuối bãi thì dừng lại. Cô ra lịnh bịt mắt tôi lại.
– Đồng chí đưa tôi khẩu AK. Cứ ở đây chờ, khi nào nghe tiếng súng nổ tôi sẽ ra.
Và cô nói với bà mẹ, giọng lạnh lẽo, hàm răng rít lại.
– Mẹ phải theo con, xem con trả thù kẻ đã giết hại gia đình mình và bao nhiêu đồng chí khác nữa.
Đúng là oan oan tương báo. Tôi đã xử tội tên nằm vùng giết cha tôi ra sao, bây giờ tôi sẽ gặp y như vậy. Nhưng tôi không nhớ rõ mình đã làm gì để cô thù hận tôi đến độ giờ đây đem ra xử  bắn tôi, không lẽ cô là con của tên nằm vùng kia?!
Cô lên đạn, chĩa súng vào lưng tôi, đẩy tôi đi trước. Cô đã phạm một sai lầm chết người. Cô gí súng vào lưng tôi là giúp tôi nắm được quãng cách giữa cô và tôi. Tầm vóc cô thì tôi còn lạ gì. Chỉ cần tôi quay nhanh lại là mũi súng sẽ chệch ra ngoài và với một đòn chân, tôi có thể đá gãy cổ cô hay ít ra cũng hạ gục cô trong tích tắc. Trong bóng tối thì bị bịt mắt hay không cũng mù như nhau. Tôi lần tìm cọng thép trong dây đồng hồ và bắt đầu mở khóa còng tay. Được một quãng, khi đoán đã xa tầm nghe ngóng của mấy tên bộ đội, tôi vừa định ra đòn thì cô mở băng bịt mắt tôi.
– Anh cõng mẹ được không? Nhanh lên! Nếu có chuyện gì, anh và mẹ cứ chạy thoát đừng lo cho em. Có thuyền chờ sẵn đằng kia. Cô ôm súng chạy phía trước, tôi cõng bà cụ men theo bờ rừng dương liễu mải miết theo cô. Độ một cây số, chúng tôi đến một thuyền nhỏ có người chờ sẵn. Thuyền được đẩy ra, nổ máy và nửa giờ sau chúng tôi ra thuyền lớn đi thẳng.
Hôm sau chúng tôi được tàu Mỹ vớt về đảo Guam.
Phạm Thành Châu – ĐS14.

Tuesday, November 20, 2018

BÙI ĐẮC DANH -14 -NGỦ ẤP -KHÔNG PHẢI NẰM ẤP./-TCL

Ngủ Ấp

Bùi Đắc Danh, 2018

            
Đầu năm 1971, từ SÀI GÒN, chân ướt chân ráo lên tỉnh HẬU NGHĨA nhận nhiệm sở làm việc. Ngày đầu tiên, sau khi làm xong thủ tục trình diện và giấy tờ hành chánh, tôi đi một vòng Tòa Hành Chánh chào hỏi, làm quen các cấp chỉ huy và nhân viên. Buổi chiều ngày thứ nhì, đang lang thang trong Tòa Hành Chánh thì một đàn anh cho hay tối nay đi ngủ ấp. Lòng còn vương vấn SÀI GÒN mà nghe chuyện ngủ ấp, chắc là ly kỳ lắm. Thấy vậy, đàn anh mới giải thích là đệ chưa có chức vụ, nhưng ngủ ấp là công việc mà sau nầy đệ sẽ phải dính líu nhiều trong việc tổ chức, điều phối, nhất là khi đảm nhiệm chức vụ phó quận trưởng. Đàn anh khuyến khích tôi nên tham dự công tác ngủ ấp tối nay vì đây là dịp học việc một cách thực tế. Vậy là sau bửa cơm chiều hôm đó, tôi cuộn mền vô túi xách, tập tểnh theo phái đoàn tỉnh đi công tác ngủ ấp. Khi đoàn xe sắp khởi hành, tôi mới biết phái đoàn sẽ xuống Đức Hòa (Tỉnh Hậu Nghĩa có bốn quận: Đức Hòa, Đức Huệ, Củ Chi và Trảng Bàng). 

Được biết trong những năm qua, tỉnh HẬU NGHĨA đã tổ chức nhiều lần ngủ ấp ở khắp bốn quận. Địa điểm ngủ ấp đêm ấy là một trường học nằm ở một ấp ngoại vi của xã Đức Hòa. Sau khi đến nới, tôi nhận thấy có nhiều công việc để tổ chức đêm ngủ ấp: sắp xếp phiên họp, cách đi lại trong đêm... và nhất là vấn đề an ninh bên trong và bên ngoài địa điểm ngủ ấp. Tôi dự thính buổi họp của phái đoàn tỉnh với các viên chức quận và xã ấp sở tại. Nhờ vậy, tôi được biết phái đoàn tỉnh gồm các cấp chỉ huy quân sự và hành chánh của tỉnh kể cả các ty chuyên môn ngoại thuộc – đầu não của tỉnh. Sau một đêm khó ngủ vì lạ người, lạ cảnh, tôi theo phái đoàn trở về tỉnh sáng hôm sau.


            
Chừng ba tháng sau, tỉnh lại tổ chức ngủ ấp. Lúc nầy tôi là quản đốc trung tâm huấn luyện và tu nghiệp, nên tôi là thành viên của phái đoàn. Địa điểm ngủ ấp: xã Thái Mỹ thuộc quận Củ Chi, nằm cách quốc lộ số 1 hai cây số. Muốn đến xã Thái Mỹ phải dùng lộ 7 (mà bấy lâu nay chỉ còn như một con đường mòn lớn) lần theo phía trong của xã Phước Hiệp về hướng tây. Xã Thái Mỹ còn giáp ranh xã An Tính (Quận Trảng Bàng) và xã Tân Mỹ (Quận Đức Huệ) nên thường là nơi ẩn nấp của Việt cộng với cứ địa Bàu Công. 

Trên đường đi, tôi ngồi ở phía sau xe vận tải nhẹ cùng với các trưởng ty khác và đến nơi khi trời chưa tắt nắng. Xe chưa ngừng hẳn trước một trường tiểu học được chọn làm nơi hội họp, thì nhiều loạt súng AK của Việt cộng nổ về hướng đoàn xe của tỉnh. Lập tức các giới chức quân sự chỉ huy nổ súng chống trả và tiếng AK im bặt. Điều cần ghi nhận là không có một sự hoảng loạn nào trong phái đoàn. Tôi còn nhớ khi nghe nổ súng, các viên chức dân sự phóng mình ra khỏi xe và nằm rạp tránh đạn, trong khi tôi lớ ngớ trèo qua bửng xe bước xuống đất. Lần đầu tiên tôi ra tiền tuyến. Trật tự vãn hồi sau đó thì trời vừa tối. Ông tỉnh trưởng cho mời các giới chức quân sự, hành chánh tỉnh, quận và các viên chức xã ấp sở tại vào họp trong một phòng học. Sau lời chào hỏi và khai mạc của ông tỉnh trưởng, phòng 2 tiểu khu trình bày tình hình địch, phòng 3 tiểu khu cho biết việc bố trí lực lượng đối phó và phòng thủ xã Thái Mỹ và vùng lân cận. Sau đó các ty sở giải đáp các thắc mắc và đưa ra cách giải quyết những công việc còn tồn đọng tại xã và quận. Xã cũng nêu lên nhu cầu củng cố vị trí phòng thủ (xin cấp kẽm gai, cọc sắt...) và cần san lấp các chỗ trũng trên lộ 7 dẫn vào xã. Ông tỉnh trưởng chỉ thị các ty chuyên môn giải quyết và trình sau khi công việc hoàn tất. Phần tôi chỉ trình bày khóa huấn luyện sắp tới và nhắc các viên chức xã ấp được chỉ định nhớ tham dự khóa huấn luyện.

            Cuộc họp diễn tiến chừng nửa giờ thì có nhiều tràng súng AK nổ vang dội về phía trường học. Lực lượng an ninh bên ngoài phản ứng chống trả hữu hiệu làm im tiếng AK sau chừng mười phút nổ súng. Trong khi đó, nơi phòng họp, ông tỉnh trưởng vẫn bình thản ngồi trên bàn chủ tọa và các giới chức vẫn ngồi yên tại chỗ tiếp tục cuộc họp dưới ánh sáng của hai đèn dầu “Manchson”. Sau cuộc họp, phái đoàn ngủ tại trường học. Tình hình êm cho tới sáng hôm sau và phái đoàn trở lại tỉnh HẬU NGHĨA.

        
Hai lần ngủ ấp nói trên đã cho tôi nhiều hiểu biết và kinh nghiệm. Sau nầy tôi không phải lo lắng lúng túng khi phụ giúp ông quận trưởng và viên chức xã ấp tổ chức công tác ngủ ấp cho phái đoàn Tỉnh. Đầu năm 1972, đang lo giải quyết công văn, giấy tờ trong văn phòng quận Củ Chi thì ông quận trưởng cho hay tối nay tỉnh ra quận Củ Chi ngủ ấp. Địa điểm được chọn là trường tiểu học ấp Tân Thông thuộc xã Tân An Hội (xã quận lỵ). Ấp nầy giáp ranh với xã Tân Phú Trung (cũng thuộc quận Củ Chi) nhưng tại chỗ giáp giới có một trục giao liên của Việt cộng đi từ Bàu Giả (phía đông quốc lộ số 1) băng qua quốc lộ để tiến về đồng bưng kinh Thầy Cai (phía tây quốc lộ số 1) mà xâm nhập xuống Đức Hòa, Hóc Môn và ngược lại. Được thông báo, ông xã trưởng TÂN AN HỘI trình diện ông quận trưởng nhận chỉ thị và gặp tôi sau đó để thảo luận thêm các chi tiết cho việc tổ chức ngủ ấp, vấn đề nào mà xã cần nêu lên trong cuộc họp tối nay cũng như sắp xếp chỗ ngủ, đi lại, ăn uống, vệ sinh... tại nơi ngủ ấp. Vài viên chức xã và tôi tháp tùng đoàn xe của quận và chi khu Củ Chi đến địa điểm trước để chuẩn bị phòng họp và bố trí an ninh. 

Trời sắp tối khi phái đoàn tỉnh đến nơi. Ông quận trưởng hướng dẫn ông tỉnh trưởng đi quan sát chung quanh trường học đồng thời thảo luận thêm kế hoạch an ninh phòng thủ̉ cũng như chương trình buổi họp. Sau khi các đơn vị trách nhiệm an ninh trình báo đã bố trí xong thì buổi họp bắt đầu. Đặc biệt lần nầy, viên chức xã ấp được khuyến khích nêu các thắc mắc trực tiếp lên ông tỉnh trưởng. Các ty sở trách nhiệm được chỉ thị giải quyết ngay lúc đó. Buổi họp diễn tiến trên một giờ đồng hồ thì bế mạc và địa phương có nhã ý mời phái đoàn tỉnh bửa ăn nhẹ với cháo gà và cà phê. Trong đêm ngủ ấp, không có sự bắn phá, quấy nhiễu hay xâm nhập của Việt cộng.

        
 Bài viết có tính cách tường trình một công tác trong kế hoạch kiểm soát an ninh lãnh thổ của Tỉnh và Tiểu khu HẬU NGHĨA. Tỉnh HẬU NGHĨA nằm ngay vòng đai thủ đô SAIGÒN. Với địch, đây là căn cứ hoạt động của Thành ủy cộng sản SAIGÒN – GIA ĐỊNH cùng với mạng lưới giao liên, tiếp tế giữa hai miền đông và tây Nam phần. Thực hiện công tác ngủ ấp trong tình thế như vậy là một cố gắng vượt bực. May mắn thay, chưa lần nào phái đoàn ngủ ấp bị phục kích bị đánh úp. Chuyện đã gần năm mươi năm rồi mà lòng vẫn xao xuyến khi nhớ về HẬU NGHĨA. Làm sao quên được những người cùng chiến tuyến trên vùng đất nhiều cam go nầy. Người còn sống xin thắp nén hương lòng tưởng nhớ các chiến hữu đã hy sinh trong sứ mạng “Bảo Quốc – An Dân”.


Sunday, November 11, 2018

Tiển Biệt  Bùi Bỉnh Bân

Tôi xin có ít lời để gửi tới qúi bạn những tâm tình của tôi đối với ông Bùi Bỉnh Bân.

Trước hết, tôi rất hãnh diện được là một đồng môn của ông Bân ở Học viện Quốc gia Hành chánh.  Ông vào Học viện Quốc gia Hành chánh sau khi tốt nghiệp Kỹ sư Nông Lâm Súc. Có thể ông nghĩ nếu hành nghề nông lâm súc thì ông chỉ chăn nuôi gà lợn heo bò , trồng cây trồng lúa nên ông muốn vào Học viện Quốc gia Hành chánh để lo cho người, chăm nuôi dân Việt, vì Học viện Quốc Gia Hành chánh lấy 4 chữ làm kim chỉ nam là “kinh bang tế thế’, tế thế có nghĩa nôm na là làm sao cho dân ấm no và phát triển.

Nhưng khi tốt nghiệp Học viện quốc gia Hành chánh, ông Bân chắc lại thấy đất hành chánh chưa đủ rộng cho ông dụng võ. Bởi thế, ông đã bước vào lãnh vực chính trị. Cụ thể là năm 1972 ông đã ứng cử  tranh chức nghị sĩ Thượng viện Việt Nam cộng hòa trong Liên danh Bông Lúa của đảng Đại Việt. Trong lúc ông đi vận động ở Cần Thơ, ông nói với tôi là ông ứng cử chỉ để học tập làm chính trị vì ông biết trước 99% là thất cử.

Thưa chị Bân,

Thưa qúi bạn,

Tôi là bạn thân của ông Bân nên tôi thấy ông Bân không uống rượu, không hút thuốc, không nhẩy đầm, không cờ bạc, không mặc áo quần hàng hiệu. Không đi xe sang dù ông là một trong những người giàu nhất trong nhóm Quốc gia Hành chánh.

Thế nhưng tôi còn nhớ, năm 1985 khi tôi làm Hội trưởng Hội Quốc gia Hành chánh, ông Bân đã yểm trợ hoàn toàn tiền in ấn tờ tạp chí Hoài Bão của Hội.  Khi Hội tổ chức cuộc hội thảo “Tìm phương thức giải phóng quốc gia” rất lớn, chưa từng có ở cộng đồng Việt Nam hải ngoại thời đó, ông Bân đã bỏ hàng chục ngàn đô la đài thọ mọi khoản chi, kể cả tiền máy bay khứ hồi và ăn ở cho một số nhân sĩ ở nước khác tới Nam Cali tham dự hội thảo.

Sáng trưa chiều tối, ông chỉ làm việc.

Tôi hiểu là Ông đã  và đang rèn luyện bản thân để sẵn sàng phục vụ tổ quốc.

Nhưng những năm gần đây hình như ông Bân mang tâm trạng rất u uẩn của một người không gặp thời.

Theo tôi nghĩ, cuộc tranh cử vào Thượng viện tuy không thành nhưng đã khiến ông Bân như con tàu đã nhổ neo, máy móc tốt, xăng nhớt đầy đủ mà không được ra khơi. Nên khi định cư tại Nam Cali thì cái câu hỏi “Ta đã làm gì cho đất nước” cứ làm ông ray rứt.  

Đó là lý do ông thường hay triệu tập anh em để làm những công tác đấu tranh giải phóng Việt Nam. Đặc biệt là ông luôn luôn đúng đằng sau, không nhận chức vụ gì, không phát biểu trước hội trường,  nhưng sẵn sàng chi tiền để chứng tỏ ông tham gia không vì danh mà cũng không vì lợi.

Ông Bân cũng thuộc nhóm khởi xướng thành lập cộng đồng Việt Nam Nam Cali. Vì ông  đã có con đường ông chọn, nên ít năm sau, ông trở thành chủ tịch cộng đồng Việt Nam Hải ngoại mà nếu qúi bạn mở đài truyền hình internet FreeVN.net của ông Bân, qúi bạn hẳn còn nhớ, nơi đầu mỗi chương trình, đều có đoạn phim nói về  cộng đồng này với tiếng chị Bùi Bỉnh Bân đọc những lời đúc kết trách nhiệm và bổn phận của Chủ tịch Cộng đồng người Việt hải ngoại và ông Bùi Bỉnh Bân nhân danh chủ tịch nói chắc nịch : “Tôi xin thề”.

Ông yêu nước. Nhưng ông không làm được gì cho đất nước trong khi đất nước ngày một suy đồi.

Ông thù ghét cộng sản. Ông đã tới các chợ yêu cầu không bán hàng hóa của Việt Cộng.Ông đã sang các nước Đông Âu vừa thoát khỏi nạn cộng sản  để nói về chính nghĩa quốc gia bằng tiền túi của ông.. Vậy mà không ít người chống đối, chỉ trích, chê cười ông, mỉa mai ông là Tổng thống Bolsa.

Tới khi qúa tuổi nghỉ hưu, “trai trẻ bao lăm mà đầu bạc”,  không còn sức để tung hoành ngang dọc nữa, ông Bân mở đài truyền hình internet. Ông vừa hành nghề vừa học nghề.  Tôi đã nhiều lần thấy ông Bân vác máy vào một hội trường để thu hình buổi sinh hoạt của các hội đoàn. Ông bước lặng lẽ.  Mọi người nhìn ông lặng lẽ. Ông lặng lẽ đặt camera. Khi hết chương trình, ông lặng lẽ xếp máy. Ông lặng lẽ kéo máy ra xe rồi về phóng lên internet nguyên con, không bình luận.

Công việc ông làm chỉ có thế thì chẳng cần tới ông Bân mà một  người cameraman nào cũng làm được.

Nên tôi biết, rõ ràng  ông chỉ làm công việc đó cho hết giờ.

Bởi giấc mộng của ông không chỉ muốn làm chủ một đài truyên hình internet..

Nghĩa là Ông không chỉ muốn trở thành Tổng thống Bolsa.

Giấc mộng nào của ông rốt cuộc cũng không thành.

Khi đã biết lực bất tòng tâm, ông nghĩ tới cái chết. Mới đây thôi, ngày 16 tháng 9, 2018 có dịp ngồi bên nhau tôi hỏi ông, khi chết, ông tiếc nuối điều gì. Ông trả lời không do dự : “Tao thương vợ tao”.

Thưa chị Bân,

Tôi không đến đây để nói câu “chia buồn” hay “phân ưu” với  chị và các cháu.

Bởi vì chị mất chồng, các cháu mất cha. Và chúng tôi mất bạn. Nào ai cân đo đong đếm đề biết nỗi buồn của ai đầy hay vơi hơn ai. Bởi vỉ, kết bạn với ai là do chính mình lựa chọn nên có nhiều chuyện của mình chỉ bạn biết mà vợ con không biết.  Khi một người bạn mất đi là mình coi như mất đi một phần dĩ vãng, một phần đời.

Nên chị và các cháu  với chúng tôi, chúng ta không chia buồn mà chúng ta chung một nỗi buồn.

Bân ơi,

Nay là lần đầu tiên tôi được thấy ông nằm đấy. Và tôi cứ bâng khuâng hoài khi nhìn lên chiếc quan tài mà ông là thằng bạn duy nhất của tôi ở Mỹ, vẫn gọi nhau bằng mày mày tao tao, thế mà nay ông đã an tọa trên bàn thờ để tôi cúi đầu lạy ông.

Ông là Phật tử, có pháp danh vậy là ông về cõi niêt bàn. Còn tôi là dân Công giáo, sẽ vể nước thiên đàng. Đâu có còn như ngày trước, ông bà mình cứ nói chết là về với ông bà tổ tiên và coi cái chết  chỉ là tạm biệt và hẹn sẽ gặp nhau nơi cõi âm hay ở cuộc đời sau..

Tôi có mấy câu thơ này  tặng ông đây:

Bây giờ mình cho nhau tiếng hát,

Kỷ niệm đi chung một đoạn đường

Tiễn biệt mà không mong tái ngộ

Bởi rằng Chúa Phật có biên cương.

Chào ông.

Đỗ Tiến Đức

4 tháng 11, 2018

 

 

 

 

 

 

Dương Quân

Vì ngày 30.4.75, viết cho Cựu SV/QGHC
Hôm nay mừng bạn trở về đây
Chén rượu hàn huyên rót thật đầy
Nhắc lại từng tên bao bạn cũ
Kẻ còn, người mất buổi chia tay

Buổi ấy bàng hoàng sáng tháng tư
Bổng dưng tan nát cả cơ đồ
Nước non tang tóc, người di hận
Tử sĩ hồn nương nặng bóng cờ

Bạn ta, người chết tận rừng sâu
Giữa tuổi thanh xuân, bị ngục tù
Nhiều kẻ vùi thân lòng biển lớn
Tiếng hờn theo gió thoảng vi vu

Hỡi ơi! Nhứt khứ hề, vong quốc
Còn gặp nhau đây xiết nỗi mừng
Lại nhớ những người xa vĩnh viễn
Nhạt nhòa đáy cốc rượu rưng rưng

Uống đi! Đời đắng như men đắng
Dốc cạn hồ trường, hỏi tuổi nhau
Bạc thếch thời gian trên mái tóc
Một đời lưu lạc sớm qua mau

Chút lòng mời bữa cơm đơn giản
Mấy chén dành riêng bạn đã xa
Thắp nén trầm hương xin tưởng niệm
Hãy về hiển hiện ở quanh ta

Dù bạn về đây hay ở đâu
Vẫn như ngày trước lúc ban đầu
Ngậm ngùi đất khách niềm thương cảm
Chí cả thu vào khóe mắt sâu

Có thể sang năm không gặp nữa
Những người có mặt buổi hôm nay
Chỉ mong tình bạn luôn trong sáng
Nhựt nguyệt hằng soi thế giới nầy

Mong thấy quê hương được thái bình
Dân hiền thoát khỏi cảnh điêu linh
Bạo tàn sớm phải vào tiêu diệt
Trang sử đau buồn khép lại nhanh

Dương Quân (ĐS14)

HÀNH CHÁNH MIỀN ĐÔNG HOA KỲ TIẾP ĐÓN ANH CHỊ NGUYỄN VĂN LUÂN ĐS14./-BB



CÓ LẼ ĐÂY LÀ LẦN ĐẦU CÁC BẠN 14 MỚI ĐƯỢC HÂN HẠNH THẤY LẠI HÌNH ẢNH NGUYỄN VĂN LUÂN (MÓM) TỪ SAU NĂM 1975- THẤY CÓ CẢ PHẠM THÀNH CHÂU THAM DỰ NGÀY 20-6-2016./-BB

Saturday, November 3, 2018

Tang Lễ GS. Nguyễn Khắc Nhân – Đức Hùng

TANG LỂ CỐ GIÁO SƯ NGUYỄN KHẮC NHÂN ĐÃ ĐƯỢC TỔ CHỨC TRANG TRỌNG THEO TRUYỀN THỐNG NHỚ ƠN THẦY.
 vào ngày 29/10/2018 nhằm ngày 21 tháng 9 âm lịch năm Mậu Tuất tại nghĩa trang Macquarie Park thuộc thành phố Sydney Tiểu Bang New South Wales, Úc Châu
Cố Giáo Sư Nguyễn Khắc Nhân, Nguyên Giáo Sư Hoc Viện QGHC của Việt Nam Cộng Hòa, sinh ngày 13 tháng 08 năm 1925 nhằm ngày 24 tháng 6 Âm Lịch năm Ất Sửu tại Hải Dương, Việt Nam, mất vào sáng ngày Thứ Bảy 20/10/2018 nhằm ngày 12 tháng 9 Âm Lịch năm Mậu Tuất tại Viện Dưỡng Lão Jamieson House, ở Thành Phố Sydney, Tiểu Bang New South Wales, Úc Châu, hưởng thọ 93 tuổi.
NKN
Giáo Sư Nguyễn Khắc Nhân là một trong những Vị Thầy khả kính, được các thế hệ Môn Sinh kính trọng, quý mến với số tuổi thọ rất cao. Tang Lễ của Thầy Nhân diễn ra trong hoàn cảnh mất nước, tha hương lưu lạc ở Úc Châu, một xứ đậm chất Tây Phương thuộc khối Liên Hiệp Anh dưới sự cai quản Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị.
Trước khi lên đường để hướng dẫn các Đồng Môn du lịch vùng Biển San Hô Úc Châu trên du thuyền, và do đó sẽ không có mặt tại Sydney để dự Tang Lễ của Thầy, Anh Lê Văn Thái, Chủ Tịch Hội CSV/QGHC Tiểu Bang New South Wales, đề nghị Anh Bùi Đức Hùng cùng Huynh Trưởng Trần Thiện Tích liên lạc với tang quyến hầu thu xếp Tang Lễ cho GS Nhân và đọc Điếu Văn trong dịp này. Anh Hoàng Trường Tấn cũng sẽ thu xếp với chuyên viên Giác Nguyện việc chụp và thu hình để thực hiện cuốn DVD lưu niệm Tang Lễ của Thầy Nhân.
Thông Báo Chi Tiết Tang Lễ của Cố GS NGUYỄN KHẮC NHÂN đã được Anh Nhan Tử Hà, Chủ Tịch Hội CSV QGHC Liên Bang Úc Châu phổ biến trên Trang Nhà QGHC/LBUC và trên toàn thế giới : Tang Lễ cử hành vào sáng Thứ Hai 29 tháng 10 năm 2018 vào lúc 11.30 tại The Camellia Chapel at Macquarie Park Crematorium – Góc đường Delhi và Plassey Roads, North Ryde NSW 2113.
Phái đoàn CSV/QGHC dự Tang Lễ Thầy gồm hai mươi đồng môn như sau :
  • Huynh Trưởng Trần Thiện Tích : Trưởng Đoàn
  • Anh Hoàng Trường Tấn
  • Anh Đặng Trần Minh
  • Anh và Chị Nguyễn Ngọc Khôi
  • Anh và Chị Vũ Quang Dũng
  • Anh Vũ Văn An
  • Anh Nguyễn An Bình
  • Chị Bùi Thị Kim Phương
  • Chị Trần Thị Huệ
  • Anh và Chị Nguyễn Khắc Chí
  • Anh và Chị Trần Văn Phan
  • Anh Nguyễn Quang Lưu
  • Chị Đỗ Thị Anh
  • Anh Nguyễn  Văn Thuất
  • Anh Nguyễn Vịnh
  • Anh Bùi Đức Hùng
FUNERAL PROF NKN
Sau khi tang quyến cùng các đồng môn và thân hữu tề tựu đông đủ. Nhân viên Nhà Quàn phân phát những Thiệp “In Loving Memory of KHAC NHAN NGUYEN, 13 August 1925 – 20 October 2018, có hình ảnh của Thầy Cô và Ái Nữ.
Chương trình Tang Lễ
Nhạc Mở Đầu
MC Tang Lễ : Tiến Sĩ Trần Đình Nai
FUNERAL 8
Cuộc Đời Giáo Sư Nguyễn Khắc Nhân qua các diễn giả :
  • Trần Thiện Tích (học trò)
  • Bùi Đức Hùng (học trò)
  • Nguyễn Minh Hà (cháu gái)
  • Nguyễn Tiến Hoàng (em trai)
Cuộc đời Giáo Sư Nguyễn Khắc Nhân qua hình ảnh với nhạc nền của Beethoven, bài Moonlight Sonata
Lời Vĩnh Biệt  Tiến Sĩ Trần Đình Nai (cháu ngoại)
Nhạc Kết Thúc
Lễ Động Quan
Đúng 11 giờ 30, Anh Bùi Đức Hùng và Anh Nguyễn Khắc Chí cùng nâng Vòng Hoa Phân Ưu đi từ cửa Nhà Quàn Camellia hướng về phía Linh Đường bên trong.
FUNERAL 1
Theo sau là Quý Anh Nguyễn Tiến Hoàng (hiền đệ của Cố Gs Nguyễn Khắc Nhân), Trần Thiện Tích, Trần Văn Phan. Linh Cữu của Thầy từ từ di chuyển tiếp sau, hai bên là các Nam Nữ Môn Sinh cùng gia đình tay đặt trên Linh Cữu của Thầy và cuối cùng là Tang Quyến, trong đó có Tiến Sĩ Trần Đình Nai, Luật Sư Trần Đình Nee.
FUNERAL 2
Linh Cữu của Thầy được đặt ngang trên Linh Đường, có một dàn hoa để ở phía trên. Các môn sinh QGHC chụp hình lưu niệm trước linh cữu và chân dung của Thầy. Sau đó MC Trần Đình Nai giới thiệu từng tiết mục và diễn giả;
Điếu Văn bằng Việt ngữ Huynh Trưởng Trần Thiện Tích soạn một Bài Điếu Văn công phu, súc tích và tràn đầy tình Sư Đệ, được Huynh Trưởng Trần Thiện Tích đọc với giọng nói sang sảng, rõ ràng, thống thiết, tiếc thương như sau :
_DSC0243
 Kính thưa Quý Tang Quyến, hai cháu Nai và Nee cùng Quý Quan Khách,
 Chúng tôi, mười tám người đứng trước đây, xin  thay mặt cho các cựu sinh viên tại Úc, đã học Thầy Nguyễn Khắc Nhân trước năm 1975 tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh ở Sài Gòn. Chúng tôi xin dành 5 phút để tưởng nhớ Thầy và tri ân sự dạy dỗ của Thầy. Thầy Nguyễn Khắc Nhân rất đặc biệt đối với chúng tôi vì Thầy là Giáo Sư chính thức của Học Viện, dạy thật nhiều khoá và nhiều cấp Tham Sự, Đốc Sự và Cao Học. Đa số học trò của Trường đều học Thầy. Thầy soạn rất kỹ các bài giảng, nhất là về Luật Hành Chánh. Nên bài giảng thật cô đọng. Sinh viên khó sửa một chữ, khó bớt một câu trong bài của Thầy. Thầy giảng khoan thai, rành mạch, khúc chiết khiến học trò dễ hiểu. Khi có sinh viên nào đặt câu hỏi thì Thầy nhẹ nhàng giải thích cho đến khi nào sinh viên ấy hiểu rõ mới thôi  và không bao giờ to tiếng hay giận dữ.
Vì mến đức độ của Thầy , nên đa số sinh viên đều nhận Thầy là một vị Thầy gương mẫu, chững chạc và thẳng thắn. Có sao, Thầy nói vậy ! Như lần tổ chức mừng thọ 90, một môn sinh hỏi Thầy có nhớ con là ai không ? Thầy trả lời thẳng : À Anh Hùng “trịnh trọng” đây mà !
 Thầy còn có tính rất khiêm nhường, kín đáo và yêu mến nền tự do, dân chủ thực sự. Khi Thầy vừa tới Queensland, một môn sinh gặp, hỏi Thầy có phải là Giáo Sư Nguyễn  Khắc Nhân ? Thầy từ chối : “ Không, tôi không phài là Giáo Sư, anh nhận lầm người rồi. Tôi chỉ là anh Thầy giáo quèn thôi”.
 Người môn sinh phải khai rõ đã nhận ra giọng nói của Thầy và đã học Thầy trong khoá ĐS 17. Bấy giờ Thầy mới chịu nhận mình là GS Nguyễn Khắc Nhân.
 Thời gian sau, Thầy tham gia một tổ chức chính trị là Liên Minh Toàn Dân với mục đích chống lại chế độ độc tài Cộng Sản và phục hồi nền tự do dân chủ cho Việt Nam.
 Kỷ niệm về Thầy nếu góp lại từ nhiều môn sinh thì không sao kể xiết !
 Giờ đây, chúng tôi xin 1 phút thưa riêng với Thầy :
Thầy ôi ! Hôm  nay, chúng con có mười tám môn sinh đang đứng chung quanh Thầy đây. Thật là nhớ hình dáng và lời giảng của Thầy. Thầy đã dạy cho chúng con thành người biết phục vụ cho dân, cho nước, biết giữ gìn và phổ biến nền Hành Chánh Tự Do Dân Chủ. Bây giờ Thầy bỏ chúng con ra đi, thì ở đây chúng con như căn nhà không có nóc. Ô Hô ! Đau tiếc lắm thay !!!
Thưa Thầy, mười tám người chúng con đại diện cho các môn đồ tỵ nạn tại nước Úc, nhất là các môn đồ phải đi cruise trong việc tổ chức Đại Hội HC, để chúc Linh Hồn Thầy sớm đoàn tụ với Cô, với con gái yêu Mai Chi và Rể Quý Hoàng tại Miền Miên Viễn.
 Con xin đọc (Huynh Trưởng Tích, thay vì đọc, đã ngâm rất hay !) trích năm đoạn bài thơ của môn sinh Bùi Đức Hùng viết để thay lời tiễn biệt :
Đến thăm Thầy năm trước Thầy còn biết thế nhân Cảnh tha hương nước Úc Thương học trò như thân !
 Năm nay Thầy đã mất ! Vẫn để lại tinh thần Dù ngọt, bùi, chua, chát ! Lòng phơi phới mùa Xuân !
 Thầy đã đi biền biệt Học trò khắp nơi sang Ngơ ngác như thất lạc !? Nhìn nhau ngấn lệ tràn !
 Nhớ bậc Thầy khả kính Đức độ, tính thân thương Đơn sơ từ hình dáng Mà nhân cách phi thường !
 Thầy, Cô dù khác chuyến Cầu chư Phật nhiệm màu Đưa hồn về Cực Lạc Danh tiếng để ngàn sau !
Thành kính tiễn biệt Thầy !
Trần Thiện Tích cùng 17 môn sinh.
Điếu Văn bằng Anh ngữ  do Diễn giả Bùi Đức Hùng chuyển ngữ, cùng nội dung với Huynh Trưởng Trần Thiện Tích, chỉ nêu ra đây phần mở đầu và phần kết thúc :
FUNERAL PROF NKN_BĐH
 FUNERAL TRIBUTE
In Memory of the Late Professor Nguyen Khac Nhan of the National Institute of Administration, Who passed away on 20/10/2018 in Sydney, Australia at 93 years of age
 Dr. Nai Tran-dinh
Mr. Nee Tran-dinh, Solicitor
Family members of the Late Professor,
Distinguish Guests who are present here today in this funeral ceremony in memory of the Late Professor Nguyen Khac Nhan
Ladies and Gentlemen
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
One more time, Ladies and Gentlemen, I beg your permission to represent all of the ex-students of the Late Professor Nguyen Khac Nhan who are living in Australia and all over the world including Vietnam, to show our sincere respect  and offer our condolences to Dr. Nai Tran-dinh and Solicitor Nee Tran-dinh and all members of the Late Professor.
All of us here, his students with our sincerity would like to pray for his spirit to be able to reach to the Ultimate Bliss as soon as possible.
  •  MAY THE NAMO AMITABHA FROM THE WESTERN BLISS AND THE GREAT COMPASSIONATE WORLD, THE BLESSFUL MONK OF AMITABHA TO RECEIVE THE LATE NGUYEN KHAC NHAN’S SPIRIT AND BRING HIM TO THE EVERLASTING WORLD.
  • NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ GIỚI ĐẠI TỪ ĐẠI BI TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT TIẾP ĐỘ HƯƠNG LINH NGUYỄN KHẮC NHÂN ĐƯỢC SIÊU SANH TỊNH ĐỘ.
 With our most sincere restpect and thanks !
Diễn giả Nguyễn Minh Hà kể nhiều giai thoại thương con cháu của Thầy Nhân
FUNERAL-16
Diễn giả Nguyễn Tiến Hoàng lên diễn đàn khóc thương vị hiền huynh khả kính đã nuôi dạy ông nên người thành đạt và hết sức cảm ơn ba đồng môn là Quý Anh Lê Văn Thái, Nguyễn Ngọc Khôi, Vũ Quang Dũng đã thăm viếng, mang cơm nước đến Viện Dưỡng Lão săn sóc hiền huynh của mình, Thầy Nhân, chu đáo trong những ngày cuối đời !
FUNERAL-17
Đúng 12 giờ 30, Lễ Động Quan và  An Táng bắt đầu. Phái Đoàn CSV./QGHC do hai Anh Bùi Đức Hùng và Nguyễn  Khắc Chí nâng Vòng Hoa Chia Buồn dẫn đầu, từ tốn, trang nghiêm tiến ra Xe Tang, Chân Dung, Linh Cữu của Thầy , các Môn Sinh và Tang Quyến theo sau ra Xe Tang, đi đến phần mộ số 0020 nằm trong khu vực nghĩa trang này.
FUNERAL 5
Thầy được an táng cùng một huyệt với Cô. Mọi người thả những cánh hoa vĩnh biệt xuống huyệt mộ.
FUNERAL PROF NKN_3
Anh Bùi Đức Hùng thay mặt Phái Đoàn một lần nữa chia buồn cùng Tang Quyến của Thầy và thưa rằng trong khi hết lòng làm lễ nếu có gì sơ suất kính xin Quý Tang Quyến vui lòng bỏ qua cho !
Ông Nguyễn Tiến Hoàng, bào đệ của Thầy, đáp từ và mời mọi người chụp hình lưu niệm trước phần mộ của Thầy Cô. Tang Lễ của Thầy Nguyễn Khắc Nhân đến đây kết thúc.
Tiến Sĩ Trần Đình Nai, cháu ngoại của Thầy,  mời mọi người đến một phòng tiếp tân trong nghĩa trang dùng tiệc trà thân mật, hàn huyên, thăm hỏi, tâm sự nhiều giai thoại về Thầy !
Ngày 30/10/2018, Tiến Sĩ Trần Đình Nai (Nai Tran-dinh), cháu ngoại của Thầy, thay mặt toàn thể Tang Quyến gởi lời cảm ơn tất cả các Môn Sinh của Thầy qua một thư email đến Anh Bùi Đức Hùng, nguyên văn như sau :
Hi Mr. Bui and Mr. Tran,
Thank you all very much for your support and efforts for our grandfather’s service yesterday. Could you please pass on our thanks to all of my grandfather’s students ? Your presence was very much appreciated.
Thank you.
Nai
Ghi lại ngày 30/10/2018 tại Thành Phố Sydney, Tiểu Bang New South Wales, Australia.
Bùi Đức Hùng