Nhóm 1% QGHC - Thông tin nội bộ QGHC Tỵ Nạn Hải Ngoại. Thiết lập từ 2008- Email Liên Lạc: cnguyqghc@gmail.com
Monday, March 11, 2019
Đánh máy chữ, chuyện xưa ttt
Trong thế giới mù, người chột làm vua. Đó là trường hợp cha tôi làm nhiều người khiếp đảm trong thập niên 1930 với danh hiệu đánh máy chữ “aveugle, dix doigt” (đánh mù mười ngón) khi ông từ Hà Nội về Huế đem theo kỹ năng nầy cùng bằng tham tá thương mãi. Thiệt ra cả thế giới, bất cứ thư ký nào trong công sở hay thương trường đều làm được vậy. Ngày nay học sinh đánh máy chữ còn nghề hơn nữa.
Nghệ thuật và nghề đánh máy chữ tiếng Pháp là dactylographie trong lúc tiếng Anh chữ tương tự dactylography là ngành lấy dấu tay giảo nghiệm hay căn cước. Tiếng Pháp chỉ dính một chút là lấy đầu ngón tay chọt vào phiếm. Tiếng Việt nếu theo Tàu là đả tự, người đánh máy chữ là đả tự viên. Người Pháp dùng thêm chữ “frappe” cho nên Việt mình vừa lòng Tây và Tàu trong chữ đánh máy chữ. Frappe là một lần gõ chữ làm cho búa đánh vào trục; lỗi đánh máy chữ là faute de frappe.
Máy chữ có cơ hành gần như dương cầm: tay bấm phiếm, phiếm chuyển qua búa, búa đánh vào dây. Do đó thiết nghĩ phiếm chữ và phiếm piano đều gọi là keyboard. Nhưng sử dụng phiếm piano là keyboardist khác với typist. Búa đánh vào ruy bang (ruban) in chữ lên giấy và ấn thêm vào các lớp giấy than thành phó bản. Ruban xưa kia bằng vải, nửa trên màu đen hay xanh nửa kia đỏ; có nút thay đổi nhưng chỉ có ở bản chính. Bản chính từ ruban có giá trị duy nhất trong các khế ước vì ruban có dầu và không tẩy được. Ruban chạy cuốn qua trục, đổi qua đổi về. Các bản giấy than có tính cách thông tri; người nhận chính sẽ nhận bản bằng ruban. Bản giấy than gọi là carbon copy, viết tắt là CC, bây giờ trên email vẫn dùng CC.
Các bàn máy đánh chữ ở VN theo phiếm của Pháp chỉ khác với Anh Mỹ là chữ A và chữ Q. QWERT / AWERT; giống như bàn phiếm computer hiện nay. Muốn tránh tình trạng “vợ đẻ và vỡ đê” thì dùng viết tay thêm dấu. Về sau có bàn phiếm tiếng Việt. Cải biến gồm hai tác động chính: thứ nhất các nút chữ không dùng trong tiếng Việt được thế bằng mẫu tự Việt: WZJF trở nên Đ. Ư. Ơ. (không nhớ rõ chữ thứ tư hoặc thành dấu kép gồm dấu mũ và hỏi hoặc ngã: tổ / ngỗng). Tác động thứ hai là đánh các dấu. Chuyện nầy rất nhiêu khê. Nguyên tắc chính là khi đánh vào nút dấu thì trục không chạy như đánh các chữ khác, chờ đến khi có chữ mới chạy. Ví dụ muốn viết: nhỏ thì đánh n / h / dấu hỏi rồi đến o. Thói quen nầy tôi phải sửa khi dùng VNI trên computer. Các nút mang dấu nầy trước kia mang những option như @ & * rồi rút lò xo động chuyển, tùy cách của từng nơi chế biến. Năm 1962 có cuộc họp để thống nhất và gởi kết quả cho các nhà sản xuất chế biến trước khi nhập cảng vào VN.
Thập niên 1970, xuất hiện bàn máy chữ điện; bàn tay chỉ đụng nút thì búa tự động đánh chữ. Nhưng khó hiểu nhất là sáng kiến của IBM, các mẫu tự và dấu bao quanh một quả cầu; quả cầu có thể thay đổi theo kiểu chữ (selectric). Khó hiểu là các mẫu tự có thể ở rất xa nhau như nửa quả đất mà không cản trở tốc độ.
Đó là điện; khác với điện tử. Cả IBM và Canon Nhật chế tạo máy đánh chữ điện tử; tôi có dùng máy của Nhật Brother; các mẫu tự xếp trên một cái dĩa gọi là “daisy wheel” thay đổi kiểu chữ. Ruban bằng giấy xài một lần, có thêm ruban xóa chỗ sai; ruban nầy không có dầu như xưa. Cái máy rất rẻ, chưa được một trăm đô nhưng đánh chừng bảy trang đã phải mua ruban mới mất 7 đô. 2012 Brother sản xuất máy cuối cùng. Ngày nay Amazon vẫn bán đủ thứ có lẽ tồn kho.
Nói tới bàn máy chữ thì phải nói đến roneo. Roneo in thành nhiều bản từ tờ giấy sáp (stencil). Stencil nguyên gốc là một tấm kim loại, gỗ khoét chữ khoét hình để thổi sơn lên để lại dấu tích mình muốn. Stencil tạm hiểu như một tấm tơ thưa và phủ lên trên bởi một lớp sáp. Bỏ lên bàn máy và đánh như thường nhưng không có ruban, chữ trên các búa ấn lên sáp tạo thành những khe để mực đi qua như stencil cổ. Không đánh mạnh quá để không lấy mất phần xơ, ví dụ chữ O không thành một chấm đen lớn; ngược lại phải dùng bàn chải chùi sạch sáp trên các búa. Muốn ký, vẽ thì dùng cây bút sắt làm mất lớp sáp.
Roneo đầu tiên là nhãn hiệu của một máy in quay tay ghép từ hai chữ rotary và neostyle; về sau thành danh từ chung. Các tiệm in roneo thịnh hành vì in ấn dễ dàng với số lượng nhỏ như các luận án ra trường; học sinh các lớp làm các đặc san lưu niệm; Hướng Đạo, Phật Tử làm nội san. Nhưng roneo là một miếng mồi ngon khó kiếm: nếu bạn được phép một giáo sư cho in các bài giảng. Nhất là trường luật, cứ mua cua (cours) học cuối năm đi thi. Kỹ nghệ nầy cho thấy các thầy không bao giờ soạn bài mới, tìm tòi, hay cập nhật hóa, cứ vậy mà in./- Hết.
Sau 50 năm, nghĩ lại những ngày
đầu của hành trình đi vào đời Hành Chánh, tôi vẫn còn lưu luyến những kỷ
niệm thật dễ thương, nhất là trong giai đoạn khởi sự tại nhiệm sở đầu
tiên: Thị Xã Đà Lạt, xứ hoa anh đào, sương mù giá lạnh.
Tôi nhận nhiệm sở Đà Lạt là do định mệnh hơn là một lựa chọn. Điều này sẽ làm nhiều người thắc mắc!
Vì
trước mặt Giáo sư Nguyễn Văn Tương, Đặc Ủy Trưởng Hành Chánh, (chức vụ
ngang hàng Bộ Trưởng Nội Vụ của tổ chức hành chánh thời bấy giờ) mọi anh
chị em thuộc Khóa 11 của Học viện Quốc Gia Hành Chánh đều phải chọn một
nhiệm sở trong danh sách các tỉnh, thị xã do Bộ đề ra.
Như vậy
là mọi người đều phải lựa chọn một nhiệm sở theo thứ tự ưu tiên của
mình, dựa trên kết quả kỳ thi tốt nghiệp khoá 11 Đốc Sự. Nhiệm sở đó có
thể đúng với ý muốn theo tiêu chuẩn lựa chọn: tỉnh hay thị xã lớn, có an
ninh, hoặc là tỉnh, thị xã nhà, cũng có thể chỉ là một nhiệm sở bất đắc
dĩ vì không còn nhiệm sở nào đạt các điều kiện trên.
Nhưng dù trong trường hợp nào thì quyết định của tôi cũng là một lựa chọn chứ tại sao tôi lại nghĩ đó là do định mệnh?
Trước
ngày chính thức xác nhận nhiệm sở, tất cả anh em Khóa 11, theo thứ tự
ưu tiên, theo sự thăm dò lẫn nhau và ước đoán, hầu hết đều đã dự trù sẵn
một nhiệm sở lựa chọn cho chính mình. Và anh em đều đoán chắc là tôi sẽ
chọn Thị xã Đà Nẵng. Vì Thị xã Đà Nẵng là một hải cảng lớn của miền
Trung với nửa triệu dân, có nhiều cơ sở của hải, lục, không quân trấn
đóng nên hoàn toàn có an ninh và Đà Nẵng lại đúng là quê hương của tôi
nữa.
Tuy nhiên, anh em đã không hay biết hoặc đã vô tình không để
ý đến một yếu tố khác cũng không kém phần quan trọng mà tôi gọi là
“định mệnh”:
Đó là ý kiến của gia đình người vợ sắp cưới của tôi!
Chính vì yếu tố này, tôi đã gây một xáo trộn đáng tiếc cho nhiều anh em khác.
Nhân
hồi tưởng lại sự việc này, xin các anh em bị ảnh hưởng do sự lựa
chọn“định mệnh” nói trên gây ra, hãy thông cảm mà xá lỗi cho tôi.
Đặc
biệt là anh Trần Ngọc Thiệu phải chọn Tỉnh Tuyên Đức thay vì Thị Xã Đà
Lạt và anh Nguyễn Văn Cường, phải chọn Tỉnh Lâm Đồng thay vì Tỉnh Tuyên
Đức. Nhưng cũng may nỗi ân hận đã không dày vò tôi lâu, vì chỉ vài năm
sau do sự xáo trộn đó mà các anh ấy đã được thăng tiến; anh Thiệu được
cử làm Phó Tỉnh trưởng Quảng Tín, anh Cường làm Phó Tỉnh Trưởng Lâm
Đồng. Còn tôi, gây song gió nên phải bị sương mù đè nặng, chỉ leo lên
làm Phụ Tá Hành Chánh cho Thị trưởng và cho đến ngày sắp mất nước mới
cầm được Nghị Định bổ dụng Phụ Tá Tỉnh trưởng Phong Dinh kiêm Phụ Tá Thị
trưởng Cần Thơ đặc trách phát triển kinh tế để rồi vào tù Cộng sản.
Do
“định mệnh” đó, tôi, tốt nghiệp Ban Hành Chánh, cùng Nguyễn Quý Thành
thuộc Ban Kinh Tế Tài Chánh, lên xứ gió lạnh, sương mù thơ mộng Đà Lạt
vào một ngày mùa hè nắng ấm nhưng sao anh em chúng tôi vẫn thấy lòng hơi
se lạnh. Lạnh lẽo vì sự xa lạ, “lạnh cẳng”do nỗi niềm lo âu vì Đà Lạt
là một thành phố được mệnh danh ”trung tâm văn hoá”, dân trí nói chung
khá cao và có nhiều người liên hệ với các giới chức cao cấp trong chính
phủ và trong hàng ngũ tướng lãnh của quân đội.
Đà Lạt là đất
thuộc Hoàng Triều Cương Thổ trong thời vua Bảo Đại với Dinh I, Dinh II
và Dinh III cho nhà vua lên nghỉ ngơi, săn bắn và để đón quốc khách. Đà
Lạt còn là trung tâm văn hoá của cao nguyên Trung Phần với Giáo Hoàng
Học Viện đào tạo các linh mục cho giáo hội Công Giáo, với Viện Đại Học
Đà Lạt có phân khoa Chính Trị Kinh Doanh nổi tiếng được các sinh viên
khắp nơi đến thụ huấn, với Trường Chỉ Huy và Tham Mưu dành tu nghiệp các
sĩ quan cấp tướng và cấp tá, với Đại Học Chiến Tranh Chính Trị và
Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, quân trường đào tạo các câp chỉ huy quân
đội chuyên nghiệp thuộc Bộ Quốc Phòng.
Vùng “đất của nhà vua” này
cũng hiện dịên ba ngôi trường dậy theo chương trình Pháp là Lycée
Yersin, Adran và trường dành cho nữ sinh nổi tiếng có tên Couvent des
Oiseaux, nơi con cái nhà giầu từ tứ xứ đổ về trọ học.
Thị xã tuy
chỉ có chưa tới 70,000 dân mà có đến 6 trường trung học. Công lập là
trường Hưng Đạo dành cho nam sinh và Bùi Thị Xuân dành cho phái nữ. Tư
thục thì có hai trường là Văn Học của ông Chử Bá Anh và Việt Anh của ông
Lê Phỉ. Sau này, lại có thêm trường bán công Thăng Long và Trường Văn
Khoa của nữ văn thi sĩ Vi Khuê . Thời gian đó, Nguyễn Quý Thành được mời
giảng dậy môn Công Dân Giáo Dục tại Việt Anh và Quang Trung. Phần tôi,
cũng thường nhận được lời mời vào Trường Võ Bị để thuyết trình cho các
sinh viên về tổ chức nền hành chánh công quyền của Việt Nam.
Đà
Lạt cũng là trung tâm du lịch và nghỉ mát nổi tiếng tại miền Nam. Do
đó,trong thời gian làm việc tôi và Thành thường được cử thay mặt cho các
vị Thị Trưởng ra tận phi trường Liên Khương tiếp đón và hướng dẫn các
vị Đại Sứ ngoại quốc đến viếng thăm Đà lạt. Anh em chúng tôi phải “mặc
đồ lớn”, côm-lê, cà-vạt trái ngược lại với một số bạn khác phục vụ nơi
ải điạ đầu, phải đối phó với lằn tên, mũi đạn. Chúng tôi thật là may mắn
khi được làm việc trong một khung cảnh lý tưởng như vậy để đem ra áp
dụng trên thực tế các bài vở đã hấp thụ trong 3 năm đèn sách tại Học
Viện Quốc Gia Hành Chánh và 8 tháng huấn luyện quân sự cho Khóa 23 Sinh
Viên Sĩ Quan Trừ Bị tại Trường Bô Binh Thủ Đức..
Trở lại vấn đề
đáo nhậm nhiệm sở, Thành và tôi không lo âu sao được khi cả Tòa Thị
chính lúc đó chỉ có mỗi một Đốc sự hành chánh duy nhất, thuộc Khóa I,
anh Thẩm Huy Khôi, trong chức vụ Phó Thị trưởng, còn tất cả các cấp chỉ
huy khác đều xuất phát từ ngạch Thư ký đánh máy, do thâm niên công vụ
nên được cải lên ngạch Thư ký hành chánh.
Về nhân viên dưới quyền
thì phần lớn các nhân viên tuổi đời từ tứ tuần trở lên đều đã từng phục
vụ trong Ngự Lâm Quân hay Toà Đại Biểu Chính Phủ tại Cao Nguyên Trung
Phần nên họ rất rành rẽ thủ tục và thuộc loại có vai vế trong cộng đồng.
Một nữ nhân viên ở tuổi lứa ba mươi thuộc Ty Hành Chánh của tôi lại là
một nhà thơ nổi tiếng đương thời, tác giả bài “Em là cô gái trời bắt
xấu”, nữ thi sĩ Lệ Khánh.
Thêm nỗi lo âu khác mà chắc chắn không
một anh em nào khác trong khóa 11 có được, trừ hai đứa chúng tôi. Đó là
chúng tôi sẽ làm việc với một vị Thị trưởng là một người phụ nữ thượng
lưu trí thức, thay vì một vị võ biền cho nên kinh nghiệm của tôi và
Thành hầu như khác biệt nhiều với đại đa số anh chị em cùng khoá.
Nguyễn
Quý Thành, làm việc gì cũng chu đáo, có kế hoạch và hăng say, làm đến
nơi đến chốn. Nguyễn Quý Thành lo xa nên đã tìm gặp các anh hành chánh
đàn anh đang làm việc tại tỉnh Tuyên Đức để xin ý kiến cố vấn. Tỉnh này
đặc biệt có Tòa Hành chánh toạ lạc ở ngay tại Thị xã Đà Lạt , trên cùng
một con đường nên các anh em QGHC bên Tuyên Đức rất thông thạo tình hình
bên Tòa Hành chánh Thị Xã.
Ngày đầu tiên, trước hết, chúng tôi
trình diện anh Phó Thị trưởng Thẩm Huy Khôi, tiếp đến, trình diện Bà Thị
Trưởng, nữ luật sư Nguyễn Thị Hậu. Tôi còn nhớ rõ hôm đó bà thị trưởng
mặc một chiếc áo dài thật sang trọng và lịch sự, khăn quàng cổ rất ư là
hợp thời trang. Trên bàn làm việc của bà là một bình hoa cắm đầy những
cánh hồng tươi thắm. Đà Lạt là thành phố của muôn hoa mà lị!
Khung
cảnh trang trọng, thanh lịch với những đoá hoa tươi thắm, với sự hiện
diện của một vị nữ lưu đảm nhiệm chức vụ quan trọng số một trong thị xã
làm cho anh em chúng tôi quên hẳn địa vị của mình là hai Phó Đốc sự mới
tò te đang trình diện trước một xếp lớn, tôi bèn mở máy “ga lăng” khen
Bà Thị trưởng. Chúng tôi không ngờ sự “ga lăng” đó có kết quả tốt không
ngờ!
Bà Thị trưởng quan tâm đặc biệt hỏi về nơi ăn chốn ở: “Thế
hai ông Đốc Sự hiện đã có chỗ ở chưa?”. Chúng tôi thưa là cả hai đang
tạm trú ngụ tại đường Hai Bà Trưng, cách trung tâm thành phố chỉ hơn một
kilô mét. Bà Thị Trưởng cho biết nơi đó không được an ninh trong khi
Phật Giáo đang “xuống đường” và ngay lập tức bà bấm chuông gọi ông Chủ
Sự Phòng Nội Dịch, chỉ thị cho ông lấy ngay một căn phòng tại khách sạn
Palace, khách sạn lớn nhất và sang trọng nhất của thị xã, toạ lạc ngay
ven hồ Xuân Hương cho chúng tôi ăn ở trong thời gian chờ đợi về trình
diện quân trường Thủ Đức để thụ huấn một khóa quân sự.
Như tôi đã
nói ở trên, thấy hai tên Phó Đốc sự này về Thị xã là các vị công chức
Chủ Sự phòng đương nhiệm đã muốn “chém” rồi, đừng nói chi đến việc lấy
phòng tại khách sạn cho chúng tôi ăn ở! Thế là ông Trưởng Phòng Nội
dịch (tuy đang đứng tại văn phòng Bà Thị trưởng mà lại biết là khách sạn
Palace đã hết phòng) bèn báo cáo ngay là khách sạn Palace đã hết phòng!
Nhưng Bà Thị trưởng ra lệnh cho ông ta: “Toà Thị Chính phải tìm một
khách sạn nào tốt cho hai ông Đốc Sự ở”.
Nhờ thế, hai đứa chúng
tôi được trú ngụ tại khách sạn Thủy Tiên và ăn tại nhà hàng lớn nhất thị
xã là “Chic Shanghai” trong suốt 3 tuần lễ. Phòng rộng rãi, có hai
giường lớn, nên chúng tôi nhường một giường cho vợ của anh Nguyễn Văn
Cường, vì tôi mà phải chọn tỉnh Lâm Đồng, như đã nói ở trên. Chị đang
mang thai cần ở Đà Lạt để bác sĩ theo dõi việc sinh cháu đầu lòng.
Đó
mới là nỗi “Oan Thị Kính” mà chúng tôi phải gánh chịu sau này vì có
người, do ganh ghét chúng tôi, “ráp bo” với bà Thị trưởng trong thời
gian chúng tôi rời Đà lạt, về trình diện thụ huấn Khóa 23 Thủ Đức: “Bà
Thị trưởng đối xử tử tế với hai ông Phó Đốc sự như vậy, thế mà hai ông
ấy lại đem gái về ở chung phòng”.
Hậu quả là sau 9 tháng thụ huấn
quân sự và trở về lại Tòa Thị chính, Bà Thị trưởng không tiếp và “giam”
chúng tôi suốt một năm làm “siêu nhân viên” cho đến khi bà rời Thị xã
Đà Lạt!
Khi Đại Tá Hồ Văn Di Hinh (thứ nam của nhà văn miền Nam
nổi tiếng Hồ Biểu Chánh) về làm Thị Trưởng thay thế nữ Luật Sư Nguyên
Thị Hậu, Nguyễn Quý Thành đã được cử làm Trưởng Ty Nội An, rồi Trưởng Ty
Tài chánh cho đến ngày đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ vào đầu năm 1972. Bộ Nội
Vụ sau đó đã lưu giữ Thành tại trung ương để đảm trách chức vụ Chuyên
Viên Tài Thâu rồi một năm sau đó giữ chức vụ Chánh Sở Nhân Viên khi Bộ
phát động việc cải tổ hành chánh. Còn tôi, được cử Trưởng ty Hành Chánh
(cùng một lượt với Thành giữ Ty Nội An) rồi chuyển qua Trưởng ty Tài
Chánh thay thế Nguyễn Quý Thành và cuối cùng là Phụ tá Hành Chánh tại
Thị xã Đà lạt.
Thành phố trong thời gian đó, trông vẫn hiền hòa.
Nhưng do các biến động chính trị, Đà Lạt cũng bị lây lan. Ngoài các cuộc
tụ tập biểu tình chống đối chính phủ, đốt đài phát thanh đặt tại khách
sạn Du Parc, “đem bàn thờ Phật xuống đường” của phe Phật giáo Ấn Quang
tại Chùa Linh Sơn mà Cảnh Sát phải cúp điện và cúp nước nhà chùa để giải
tán biểu tình vào khoảng các năm 1966-1967. Việt Cộng vẫn thỉnh thoảng
đột nhập về các khu phố hẻo lánh như Trại Hầm, Đa Thiện, và đặt chất nổ
phá hoại hoặc ám sát viên chức xã ấp.
Tôi và Thành thoát chết
trong gang tấc vào năm 1969 do Việt cộng đặt chất nổ ngay tại Tòa Thị
chính. Như vậy, tuy công tác ở Đà Lạt nhưng anh em chúng tôi cũng chia
xẻ với các bạn ở chốn điạ đầu nỗi hiểm nguy không thể ngờ trong một đất
nước có chiến tranh.
Đà Lạt với khí hậu lý tưởng, phong cảnh hữu
tình, thơ mộng nên chúng tôi có cơ hội thù tiếp và làm hướng dẫn viên
cho các cặp uyên ương mới thành hôn của các bạn cùng Khóa lên Đà Lạt để
hưởng tuần trăng mật.
Riêng tôi, không chỉ có một tuần trăng mật
mà có đến bảy năm trăng mật từ 1968 đến 1975 tại Đà Lạt. Dù đã có một
con gái, cho đến năm cô, tối nào, chúng tôi cũng mặc mân-tô, khoác tay
nhau dạo quanh khu Hòa Bình, dừng lại bên lò than hồng của bà cụ bán bắp
để mua bắp nướng thoa mở hành, vừa đi, vừa ăn. Nếu không có bắp nướng
thì ghé lò bánh mì Vĩnh Chấn để mua bánh mì baguette nóng dòn. Đêm Đà
Lạt lạnh, nhưng tình chúng tôi ấm.
Bây giờ sau năm mươi năm, tôi
vẫn không sao quên được những ngày lưu luyến ấy. Đà Lạt, nơi chôn nhau,
cắt rốn của năm cô con gái của tôi, bây giờ ra sao? Có còn là Đà Lạt thơ
mộng hay chỉ là một góc phố Sài Gòn như nhiều người trở lại đã diễn tả
với niềm thất vọng, buồn đau.
RẤT TIẾC BÀI VIẾT CÒN VƯỚNG MẮC VÀI TỪ NGỮ VIỆT CỘNG LẼ RA KHÔNG CÓ MỘT CHỮ VC NÀO THÌ HAY cho tình thần QGHC BIẾT MẤY./-BB (*Phấn đấu, Ổn định...)
EM TÔI, truyện ngắn
Trần Bạch Thu
Hồi mới lên 5 tôi nhớ có lần mẹ dẫn hết mấy anh em qua bến đò chợ Thạnh
Trị hốt thuốc Nam và nhờ thầy coi luôn tướng số, hậu vận về sau cho mấy
đứa con. Thầy nói với mẹ là đứa em thứ tư của tôi có tướng mệnh yểu và
chết vì nước. Lúc đó mẹ hơi luống cuống, mắt chớp liên hồi còn miệng thì
lẩm bẩm xin thầy coi lại. Thầy lắc đầu:
- Cơ trời đã vậy. Hãy gắng tu nhơn tích đức thì may ra. Vậy thôi.
Mẹ về mà lòng buồn vô hạn. Sau đó mẹ quyết định lựa ngày rằm tháng tốt
dẫn mấy anh em tôi lên chùa xin Qui y Tam bảo cho hết cả 3 đứa con trai
đầu.
Đứa em thứ tư của tôi là đứa khôi ngô tuấn tú nhất nhà, thuở nhỏ rất bụ
bẫm, tôi thường hay bồng ẵm chơi với em thường xuyên nhất, một phần
thương nhiều hơn mấy đứa khác là vì tôi nghe và hiểu lời thầy nói, phần
khác em rất đẹp và hiền lành dễ thương. Lâu ngày rồi cũng quên, nhưng mẹ
tôi thì lo suốt đời.
Ba làm việc ở Tòa Bố đối diện xéo với cầu Tàu Mỹ Tho nên thỉnh thoảng có
những chiều sau giờ làm việc ba thường hay dẫn mấy anh em tôi ra cầu
tắm sông, bơi lội. Mẹ cấm tiệt đứa em thứ tư không được xuống nước. Ba
biết chuyện bèn bảo mẹ đừng tin lời thầy bói. Hễ mỗi lần như vậy là mẹ
dặn tôi nếu có đi tắm nhớ luôn ở bên cạnh để coi chừng em.
Khi lớn lên em là đứa to cao, khuôn mặt đẹp đẽ thanh tú. Lúc đó bạn bè
cùng trường hay đặt tên gọi riêng là Alain Delon vì hao hao giống nam
tài tử điện ảnh Pháp. Học hành thông minh tấn phát lại hay giúp đỡ mọi
người nên hàng xóm trong cư xá ai ai cũng thương mến. Bọn con gái thì
khỏi nói, lúc nào cũng anh Tư nghe ngọt sớt. Mẹ hay răn đe là nên lo học
hành không được bày đặt bè bạn bồ bịch lăng nhăng. Em nghe lời lắm.
Việc nặng trong nhà em là đứa luôn luôn đứng ra gánh vác. Ngày cận tết,
25 tháng Chạp về quê nội tảo mộ, Bà Bảy luôn chia cho em những chỗ đầy
gai mắc cỡ để dẫy cỏ. Thế mà lúc nào em cũng xong sớm rồi qua phụ với
anh em ở các khu mộ khác. Không biết sao Bà Bảy luôn bảo với mọi người:
- Chia cho nó chỗ khó để được ơn phúc đức ông bà phù hộ.
Trong kiến họ, Bà Bảy là người trông coi đất đai mồ mả gia tộc. Khi có
người thân qua đời bà là người “chỉ đâu chôn đó.” Bà có thanh gỗ đẽo
hình hạt đậu cắt dọc làm đôi thành 2 thanh, mỗi thanh đều có 2 mặt, lồi
và phẳng như nhau. Trước khi chỉ đâu chôn đó bà đi quanh quẩn xin keo
bằng cách thảy hai thanh gỗ lên trời rớt xuống đất nếu hai thanh gỗ nằm
dưới đất một lồi một phẳng là được. Trong gia tộc đồn nhau, hễ thương ai
thì bà thảy xin keo ở giữa gò còn ghét ai thì bà đi vòng ra rìa ngoài
thảy xin keo ở quanh đó, có khi xin tới 2,3 lần cho tới khi nào được mới
thôi.
Có một lần thầy Tám hốt thuốc Nam ở sau đình Long Bình Điền bảo nhỏ cho
người nhà biết là vùng đất Chợ Gạo, Gò Công thuộc Linh Qui có số phát
cung tần mỹ nữ. Bà Bảy chỉ biết việc đời nhưng không thấu cơ trời. Thử
hỏi đất Rùa chôn ở chỗ nào thì đắc địa? Xuống Gò Công xem mộ dòng họ Bà
Từ Dũ thì biết. Có phải là ở ngoài rìa ngay cổ rùa hay không. Giữa gò
phát khoa, đội bia Tiến sĩ nhưng là đất bồi sẽ bị lún làm sao phát được,
mà có thì cũng “bạo phát bạo tàn.” Biết đủ là được, cổ, chân hay đuôi
rùa mà phát tới Hoàng thái hậu là được rồi.
Bà Bảy sở dĩ được mọi người tín cẩn là vì bà đã ở vậy nuôi em từ khi cha
mẹ mất sớm, bỏ qua thời xuân sắc đành chịu lỡ thời. Tính người quá khắt
khe nên mọi người cùng nhau đặt tên gọi là Bảy Dễ cho đỡ, nhưng dễ đâu
không thấy mà ngày càng lớn tuổi càng thấy khó hơn. Bác Hai ngoài phần
đất đai được chia còn được kế thừa ở nhà từ đường cộng thêm với 3 mẫu
ruộng phần đất hương hỏa nên có trách nhiệm cúng giỗ ông bà cố tổ hằng
năm. Bác Hai gái than với Bà Bảy rằng đất đai ngày càng bạc màu, mùa
màng thất bác mà giỗ chạp nhiều quá nên huê lợi có phần kém không đủ để
đãi họ. Từ đó Bà Bảy Dễ rỉ tai con cháu về dự đám giỗ phải mang theo quà
bánh cúng cho kha khá một chút, ít ra cũng một con heo quay hay một
chục gà, vịt. Có thể gởi tiền về trước cũng được. Phần ăn mặc, cha mẹ
con cái cũng phải quần áo mới và tươm tất để hàng xóm trọng vọng là con
cháu của ông Cả Tam. Kết quả là những người nghèo như cô Tám Nữ có chồng
phương xa, đông con nghèo quá trốn luôn, biệt xứ không bao giờ về dự
đám giỗ nữa.
Có lần em tôi biết chuyện thương tâm của Cô Tám bèn nói với ba thưa lại
với Bà Bảy bỏ lệ đó đi. Có lẽ chuyện tới tai bà nên mới có cớ sự chia
phần dẫy cỏ gai như trên. Tuy nói là được ơn phúc đức ông bà, nhưng khi
xong việc bà cho là đứa nghịch tử.
- Ba nó còn răm rắp không dám cải. Tôn ti thứ bậc trong kiến họ Trần là phải vậy.
Chơi đùa em là đứa chịu đòn cho anh em nhiều nhất. Những lần hái trái
cây trộm chỉ có mình em là dám vượt hàng rào kẽm gai vào bên trong leo
lên cây hái trái liệng ra, cả đám con nít ở ngoài chỉ việc lượm bỏ vô
túi, đến khi chủ nhà phát hiện rượt đuổi, một mình em ráng vét cho hết
rồi mới leo rào vượt ra ngoài tay chân rách sướt, máu chảy ròng ròng thế
mà vẫn tỉnh bơ ôm túi trái cây mà chạy, trong khi đó anh em tụi nhỏ
quăng hết để thoát thân.
Lớn lên thêm một chút khi biết đi câu thì em là người cùng một lúc, cùng
một chỗ mà khi nào đi câu, giỏ của em cũng nhiều cá nhất. Bác Hai Đáng
chủ vựa cá bảo là em có tay “sát cá”, vừa nói Bác vừa nhìn em rồi bảo:
- Tướng tá nầy lớn lên mà có số đào hoa nữa thì chắc khối con gái chết mệt.
Em không có bạn gái chỉ lo học hành và anh em chơi với nhau ở trong nhà
chứ không có ra ngoài đánh đôi đánh đọ chơi bời lêu lổng. Đến năm 72
giặc giã nổi lên, tin chiến tranh dồn dập hằng ngày, bạn bè của em đi
lính chết trận cũng nhiều. Không biết nghĩ sao em bỗng có ý tưởng xin mẹ
cho đi lính. Mẹ khóc hết nước mắt. Đến lúc nầy mẹ mới bắt đầu nghĩ ra
vì trong xóm có nhiều thanh niên trai trẻ hy sinh, nói nôm na là “chết
vì nước.” Càng nghĩ mẹ càng nhớ tới lời ông thầy bói ở bến đò Thạnh Trị
mười mấy năm về trước. Mẹ lo sợ lắm nên năn nỉ em ráng học thêm ít năm
nữa rồi hẳn hay. Đâu được chừng 6 tháng sau em quyết định đăng lính và
ước nguyện của em là sẽ vào binh chủng Nhảy Dù. Mẹ cùng đường, năn nỉ
người quen lên Sài Gòn chạy cho em sau khi tốt nghiệp được ở lại Sài
Gòn. Trong đời mẹ coi như chết đi sống lại lần nầy khi nghe tin em được
về đơn vị Tiểu đoàn 5 Quân cảnh đóng tại Sài Gòn.
Từ khi vào lính em mặc đồ quân cảnh trông rất là oai phong lẫm liệt, lái
xe jeep chạy quanh thành phố rất quyền uy. Sĩ quan cấp Tá mà vi phạm kỷ
luật, quân cảnh bắt lột lon, còng tay đem về đồn như không. Mẹ nghe nói
thế bèn sợ gây thù chuốc oán nên giao cho em có việc để khỏi ăn nhậu
chơi bời trác táng là giúp em gái trả tiền trọ học hằng tháng và trông
nom em đang đi học trường Luật tại Sài Gòn. Tôi từ xa về thường hay ghé
trại Lý Thái Tổ cùng em ra bờ sông Sài Gòn ăn uống với mấy người bạn
cùng đơn vị với em. Vui lắm và cũng mừng, quên đi cái vụ “chết vì nước.”
Mỗi khi về phép em luôn luôn có quà cho gia đình ba mẹ nhất là các em
nhỏ, đứa em út mới lên ba, anh Tư cũng còn nhớ mua cho em một thùng sữa
uống cho mau lớn. Thấy các anh ăn mặc luộm thuộm tuy là lính luôn mặc
quân phục nhưng lúc nào em cũng đem quần áo dân sự mới tinh về nói với
mẹ là cho anh Hai, anh Ba xài, con ít khi mặc lắm.
Năm 75 Cộng sản về thành, em đi cải tạo tại địa phương. Tính tình hiền
lành, chịu khó, chịu khổ và an phận nên em chỉ cải tạo một thời gian
ngắn rồi được cho về. Ngày về mẹ vui mừng lắm vì chiến tranh đã chấm dứt
cho nên câu “chết vì nước” có lẽ không còn đúng nữa.
Khi về đời em theo làm phụ xế xe tải của Cậu Tư đi chuyến hằng ngày Sài
Gòn – Cai Lậy. Trong hoàn cảnh khó khăn em cùng với gia đình phấn đấu
vượt qua mọi sự khó khăn. Làm đủ mọi nghề chỉ để được có cái ăn không
còn nghĩ ngợi điều gì khác nữa cả. Còn sống là may mắn lắm rồi. Tự an ủi
như vậy. “Lâu rồi đời mình cũng qua.” Sống được suy cho cùng, tướng tự
tâm sinh tất cả đều do mệnh trời.
Sau khi ổn định công ăn việc làm em kể với mẹ là hồi còn đi lính ở Sài
Gòn có quen thân với một ông nguyên là sĩ quan nhà đoan (quan thuế) thời
Pháp thuộc, nay đã về hưu sống ở bên kia bến đò Thủ Thiêm. Ra vào chơi,
ăn nhậu nhiều lần hợp tính nhau nên ông giới thiệu và muốn gả cho cô
con gái thứ chín, trước đây là Dược Tá viên làm ở Viện Bào Chế Văn Lang.
Chuyện đã lâu rồi, gần 5 năm về trước. Hiện nay em cũng vẫn còn qua lại
thăm viếng trong những lúc nghỉ chờ chất hàng lên xe tải. Giờ em muốn
tiến tới hôn nhân. Mẹ hỏi:
- Cô ấy bây giờ làm nghề gì?
- Đưa đò ngang ở bến Thủ Thiêm.
Nghe đến đó mẹ thầm kêu trời. Mẹ nghĩ em muốn ở rể, theo vợ về làm nghề
đưa đò qua lại hằng ngày chắc cũng sẽ có ngày sơ xảy, rủi ro. Mẹ từ
chối. Em quyết không lập gia đình với người khác. Dần dà mẹ cũng xiêu
lòng đi hỏi cưới đàng hoàng cho em nhưng dặn nhỏ một điều với cô con dâu
là làm gì cũng tốt, miễn ở trên bờ đừng xuống thuyền đò là được. Mẹ nói
tránh là em không biết lội và thường hay bị cảm hàn, thấm nước khó trị.
Em bỏ xứ ra đi lên Thủ Thiêm thành Dượng Chín tài đò.
Được vài năm thỉnh thoảng mẹ có lên thăm thấy cũng an lòng vì em làm
trong văn phòng Hợp Tác Xã bến đò Thủ Thiêm còn vợ thì có chiếc đò đưa
khách qua lại Thủ Thiêm – Tân Thuận. Cuộc sống bình thường có 4 đứa con,
ba gái một trai đặt tên là Chiêu, Quân, Đông, Châu. Ông bạn nhậu vong
niên ngày trước nay trở thành nhạc phụ, trước khi qua đời ông có làm
giấy giao nhà lại cho Dượng Chín. Cả gia đình sống rất hạnh phúc trong
căn nhà tương đối có giá ở trong vùng. Tưởng đã xong ngờ đâu lại có
chuyện, số là gia đình bên vợ còn có một người em út gọi là cậu Mười
thất nghiệp buồn tình say xỉn suốt ngày, cứ hễ đêm nào say sướt mướt là
mò về đòi lại căn nhà của Dượng Chín. Anh em lời qua tiếng lại nếu không
may sẽ xảy ra chuyện chẳng lành.
Vốn hiền lành, ít khi cãi cọ, nửa đêm Dượng Chín đánh thức hết mấy đứa
nhỏ cùng vợ xuống xuồng bơi thẳng qua đầm dừa nước gần ngã tư An Khánh
neo giữa dòng chờ sáng.
Gia đình bên vợ năn nỉ thế nào Dượng Chín cũng nhất quyết không trở về
căn nhà cũ cũng như không hề lấy đi bất cứ một thứ gì, kể cả soong nồi.
Sau đó có người trong xóm thương tình sang nhượng lại cho một căn chòi
nhỏ dùng để chăn vịt ở giữa đầm, vuông vức mỗi bề 4 mét.
Hai đứa lớn Chiêu, Quân phụ mẹ đưa đò. Dượng Chín thôi làm ở Hợp Tác Xã,
hằng ngày lặn lội móc đất lên đắp nền nhà cho rộng ra. Đến chiều khi
hết tài đò ba mẹ con gom vỏ nghêu sò chở đầy xuồng về đổ cặp theo nền
nhà mới đắp. Từ từ rồi cũng nới rộng ra và đắp được bờ đi ra tới lộ đá.
Vài năm sau khi thành nền nhà hẳn hoi, Dượng Chín mua xà bần vật liệu
xây dựng phế thải đem về đổ móng làm nền và tráng xi măng xây kè cho
vững chắc. Chính tay Dượng Chín mua gỗ về cùng với thợ cất nên một ngôi
nhà rất khang trang nằm giữa đầm dừa nước đẹp như tranh vẽ.
Tháng Chạp năm Kỷ Mùi, mẹ lần đầu tiên ra Bắc thăm nuôi tôi. Từ Cai Lậy
mẹ mang theo hai bao bố quà của gia đình lên Sài Gòn nghỉ qua đêm ở nhà
vợ chồng em bên bến đò Thủ Thiêm. Nhà mấy đứa em, đứa nào cũng muốn đi
theo mẹ ra Bắc thăm anh, nhưng nghe người đi thăm nuôi kể lại là khó
khăn lắm, thường thì trại cải tạo nằm sâu trong núi nên từ đường lộ đá
muốn vào tới trại xa chừng 5,7 cậy số mà quà nhiều thì phải có người
khỏe mới có thể gánh tới chỗ thăm nuôi được nếu không muốn mướn người
địa phương tiền bạc rắc rối và hay bị lừa nên mẹ chọn đứa em gái thứ
sáu, trẻ khỏe và nhanh nhẹn.
Sáng sớm hôm ra ga xe lửa đi Nam Hà, em gánh hai bao bố đưa mẹ và em gái
ra ga. Khi kiểm tra vé lên tàu vì số lượng hành lý đi theo người quá
tải nên bắt buộc phải mua thêm vé hành lý. Hết tiền mẹ tính bỏ lại. Em
ra hỏi dân chuyên nghiệp “chọi đá đường rầy xe lửa”, họ bày cho cách là
mang số quà muốn gởi ra khỏi ga gần cửa khởi hành, đến khi xe lửa chạy
thì nhanh chân mang hành lý chạy theo xe lửa cho tới toa của người thân
mà quăng lên. Em gởi thêm cho anh bánh thuốc lào, hút cho đỡ đói.
Khi đứa lớn, con em thi đậu vào trường cấp 3 Trưng Vương thì có tin đồn
là sẽ giải tỏa khu đất đai gồm toàn bộ vùng ngã tư An Khánh để sử dụng
lập đô thị mới. Ban đầu còn đồn đại, sau đó có thông báo chính thức cho
cư dân thiết lập hồ sơ để được đền bồi hoặc chuyển đi định cư nơi khác.
Dượng Chín vẫn bình chân như vại và bắt đầu uống rượu từ sáng sớm không
ăn. Một thời gian sau phát bệnh lao phổi rồi uống thuốc trị lao mà cả
thế giới đã cấm sử dụng từ lâu. Thuốc tàn phá cơ thể một cách khủng
khiếp. Người bắt đầu khô đét, đen đủi như cột nhà cháy. Nhưng mối sầu
thế thái còn tàn phá con người nhanh chóng hơn. Thế rồi vào một buổi
chiều tối khi ba mẹ con đưa đò về tới nhà không thấy ba ngồi đợi bên
hông nhà ngay cọc neo đò như mọi khi.
Dượng Chín qua đời trong tư thế ngồi vắt chân bên cạnh bàn với ly rượu
vơi phân nữa. Mẹ lên định đưa về Long Bình Điền chôn cất. Nhưng vợ và
mấy đứa con cho biết ba thường hay trối “Sống gởi nạc thác gởi xương”
chết đâu chôn đó không di dời đi đâu cả. Cuối cùng gia đình đồng ý chôn ở
đất chùa Nguyên Thủy gần với ông Ngoại, người cựu sĩ quan quan thuế năm
xưa. Dượng Chín hưởng dương 40 tuổi. Sinh thời em rất thích tên gọi
Dượng Chín.
Đám tang có rất đông người thăm viếng, hầu như gần hết cư dân vùng bến
đò Thủ Thiêm. Em sống rất tình nghĩa, ngay thẳng và công bình. Không ăn
tiền bẩn. Hợp Tác Xã bầu em làm trưỏng tài đò trong nhiều năm, có nhiệm
vụ phân chuyến theo đúng ngày giờ và luân phiên cho tất cả mọi tài đò.
Dân xã hội đen thấy tướng tá của em cũng hơi gờm, ít nói mà làm thiệt
nên cũng ngán. Bến đò Thủ Thiêm yên ổn làm ăn từ khi có em về.
Đám tang miễn phúng điếu nên Hơp Tác Xã bến đò Thủ Thiêm cúng một đội
kèn Tây. Bà con cư dân trong vùng hùn nhau cúng một đội nhị tỳ biểu diễn
khi di quan và đồng thời tự thuê xe đi đưa đến tận chùa Nguyên Thủy.
Hôm đi đưa đám, buổi sáng trời mưa lâm râm cả nhà lên xe đò đi Thủ Đức.
Thầy xem ngày giờ hạ huyệt là đúng ngọ 12 giờ trưa. Xe tang lên sớm hơn
độ một tiếng đồng hồ, mọi người đang nhốn nháo chờ đọc kinh làm lễ thì
đội nhị tỳ cãi vã vụ gì đó không ai biết cho đến khi thầy quyết định dù
sớm cũng hạ huyệt đúng giờ. Thầy bảo đưa quan tài đặt trên cửa huyệt chờ
thì mọi người mới thấy 2,3 người ở dưới huyệt leo lên.
Đến giờ hạ huyệt người thân trong gia đình đến gần mới hay là huyệt đang
ngập nước. Nãy giờ đội nhị tỳ cử người luân phiên xuống múc nước ở dưới
huyệt chuyền lên cho huyệt khô ráo. Điều lạ là gò mả ở chùa là gò cát
có hằng trăm năm nay, đâu bao giờ thấy có nước khi đào huyệt. Đội nhị tỳ
xin thầy chôn sớm khi vừa ráo nước. Gia đình xin thầy cho phép người
xuống huyệt múc nước lên. Thầy bảo cữ, không được. Chờ gần nửa tiếng
đồng hồ sau huyệt ngập nước gần phân nửa. Tới giờ thầy ra lệnh hạ huyệt.
Đội nhị tỳ nhớn nhác nhìn quan tài chìm nghỉm trong nước, mọi người
khóc inh ỏi. Thầy nói với gia đình là mộ táng nhằm long mạch rất tốt,
con cháu sẽ vượng phát.
Chỉ riêng mẹ và tôi là chợt nhớ như in lời thầy bói ở bến đò Thạnh Trị
gần 40 năm về trước, “chết vì nước.” Chỉ khác là không có loạt súng chào
khi hạ huyệt thay vào đó là tiếng kèn lá của đội nhị tỳ.
20 năm sau, Chiêu Quân Đông Châu lớn lên đều học hành đỗ đạt, đứa lớn
tốt nghiệp Đại Học Ngữ Văn, làm ở cửa hàng quà lưu niệm trong Khách sạn
New World và là người đã bán được món quà lưu niệm đắt giá cho Tổng
Thống Bill Clinton. Quân du học tốt nghiệp Kỹ sư Công Chánh trường Đại
Học Long Beach và định cư tại Mỹ. Đông, Châu ra trường có việc làm tốt,
gia đạo yên vui.
Bắp non mà nướng lửa lòĐố ai ve được con đò Thủ Thiêm.
Thím Tư vẫn ở vậy nuôi con và chỉ có một niềm ân hận duy nhất là không
làm sao giữ được căn nhà ở Thủ Thiêm mà Dượng Chín đã dày công khai phá
và dựng nên. Buồn thật.
Trần Bạch Thu
Nhân Sinh Nhật Đại thượng thọ 96 tuổi, xin hân hạnh giới thiệu
Nữ Sĩ Lão Thành Cụ Bà Đan Phụng
Một trong những nữ thi sĩ lão thành tại Úc Châu nói chung
và đặc biệt tại QLD nói riêng, chúng ta phải kể đến Bác Đan Phụng. Ngày
mai (16/02/2019) là sinh nhật Cụ Bà 96 tuổi, hiện Cụ đang cư ngụ tại
Brisbane mà chúng tôi rất đỗi thân quen nên thường hay gọi cụ là Bác. Trước hết, xin mời quý vị đọc một bài thơ viết về Xuân của Bác:
XUÂN THƯỞNG HOA
Xuân đến muôn hương trải khắp trời Cỏ cây bừng sắc mượt mà tươi Mẫu đơn cao quý mầu thanh lịch Hồng quế đoan trang nụ hé cười Thèn thẹn mai vàng e bướm ghẹo Nõn nà lan trắng ngại ong soi Nâng niu tay khách mơn từng đóa Chỉ sợ hoa hờn cánh rụng rơi.
. ĐAN PHỤNG
Cách đây 15 năm, chúng
tôi có dịp gặp Bác Đan Phụng tại Brisbane nhân Lễ mừng Khánh Thọ thứ 81
của Bác trong bầu không khí tươi vui đầy thơ văn và cảm động. Lễ mừng
này do trưởng nam là Ca nhạc sĩ Phạm Cao Tùng tổ chức đã ghi một kỷ niệm
hết sức tốt đẹp, sâu đậm trong lòng Bà ở tuổi xế chiều.
Nhớ ngày xưa khi chúng ta cắp sách đến trường ê a những vần thơ thương nước thương nhà của Bà Huyện Thanh Quang như “Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà, Cỏ cây chen lá đá chen hoa“ hay “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”
thì nay ta tìm thấy những vần thơ trác tuyệt ấy trong hầu hết các thi
phẩm của nữ thi sĩ Đan Phụng – một Bà Huyện Thanh Quan tân thời. Như bài
Chiều Xuân trên Đèo Ngang chẳng hạn với các vần thơ:
“Cảm mái tranh nghèo trong tĩnh mịch Chạnh đàn chim muộn giữa bao la Tang thương khiến mủi lòng du khách Làm cánh mai gầy cũng rủ hoa”
hay bài Nỗi niềm xa xứ:
“Muốn gửi lời thơ lên cánh gió Để thơ theo gió đến muôn phương Quê xưa cách trở ngàn mây nước Mộng cũ chưa tròn một sắc hương”.
Thật là tuyệt diệu!
Bác Đan Phụng tên thật
của bà là Cao Thị Phúc, quy y tam bảo với pháp danh Nguyên Đức, sinh
ngày 16-02-1923 tại Hải Ninh (Bắc Việt). Thân phụ là cụ Tuần phủ Cao
Văn, là người theo Tây học, là nhà khoa bảng nhưng rất thích Nho học và
rất am tường chữ Nho. Với chức vụ Tuần phủ trước năm 1954, cụ Cao Văn
thường đi làm việc ở nhiều nơi trên quê hương miền Bắc.
Thuở thiếu thời chị em
Bác Đan Phụng theo song thân đặt chân đến nhiều nơi trên đất nước. Từ
những tỉnh ở đồng bằng Bắc Ninh, Bắc Giang, Phủ Lạng Thương, với giòng
sông Thương hiền hòa chảy qua những đồng ruộng xanh bát ngát, với những
làn điệu quan họ trữ tình đến những núi rừng cao nguyên trùng điệp Tuyên
Quang, Yên Bái, Lạng Sơn với rừng núi bao la xanh tốt, với tiếng chim
kêu vượn hót véo von và tiếng suối reo róc rách, với làn thác bạc từ
trên núi cao đổ xuống như một khúc nhạc tình muôn thuở. Trước cảnh thiên
nhiên không nhuốm bụi phồn hoa ấy, không hiểu sao tâm hồn non dại của
Bác yêu thích thiên nhiên quá, phải chăng tâm hồn yêu thơ và yêu những
cái đẹp của cuộc đời đã trỗi dậy trong tâm hồn Bác từ thuở đó.
Đến lúc trưởng thành,
Bác may mắn đã gặp người bạn đời cùng chung lý tưởng và hai tâm hồn cùng
hòa chung một điệu, cùng yêu thơ và tha thiết với văn chương, phu quân
của Bác – cố thi sĩ Tú Phan. Trong cuộc sống hạnh phúc của gia đình, cả
hai càng thấy cảm hứng làm thơ bay bổng là tuyệt vời, cả hai cùng khắn
khít bên nhau, phu xướng phụ tùy, cả hai làm thơ trên từng bước đường
đời bất chấp thăng trầm của thế sự. Cả hai tìm thấy thơ là nguồn vui
sống vì thơ đã tô điểm cho cuộc đời cả hai thêm hương sắc.
Trước năm 1975, Bác sáng tác rất nhiều thơ và tập thơ “Sông Thương Một Bến”(STMB)
chỉ là một phần trong tài sản tinh thần của Bác. Bác là cựu nữ sinh
trường nữ Cao Đẳng Tiểu học Đồng Khánh, Hà Nội. Đậu bằng Thành Chung
(DEPCI) rồi thi vào ngạch Hành chánh ra làm công chức cho đến khi di cư
vào Nam năm 1954. Tuy làm công chức nhưng tâm hồn lại chỉ say mê văn
chương thi phú.
Những năm tháng còn ở
quê nhà, trong cuộc sống thanh nhàn vẫn viết lách làm thơ, coi đó là một
thú vui cho cuộc đời. Đến khi di cư vào Nam và sau đó lại dấn bước tha
hương đến Úc, nỗi buồn thân thế càng làm cho Bác tìm đến thơ nhiều hơn
nữa. Bác Đan Phụng đến Úc vào đầu năm 1994 do các con bảo lãnh. Tập thơ
STMB đã phản ánh rõ nét về cuộc đời của hai nhà thơ Tú Phan & Đan
Phụng, đã gói ghém tâm tư tình cảm của một đời người từ tình yêu quê
hương đất nước, tình yêu thương thiêng liêng gia đình cha mẹ, con cái,
tình nghĩa son sắt vợ chồng đến tình bạn bè. Bác đã có nhiều bài thơ
đăng trên các báo Việt ngữ tại Úc châu, báo của các Hội cao niên ở
Canberra, NSW và thỉnh thoảng trên các báo khác như báo Hoằng Pháp của
chùa Linh sơn ở Pháp, tờ Chánh Đạo tại Brisbane hay đặc san của cựu nữ
sinh Gia Long chẳng hạn. Riêng năm qua, chúng ta thấy các bài thơ của
Bác Đan Phụng hầu như có mặt đều đặn hàng tuần trên báo Việt ngữ đã làm
thi hứng cho bao tao nhân mặc khách.
Tập thơ STMB đã ra mắt
thật thành công cách đây…… trong một buổi chiều thật đẹp tại Bankstown.
Đây là một tác phẩm văn hóa đầy giá trị tại hải ngoại, là sự hài hòa
giữa hai tâm hồn đồng điệu thi ca và cũng là cặp vợ chồng đầm ấm TP
& Đan Phụng cho đến ngày ông bất chợt vĩnh viễn ra đi để lại nỗi sầu
muộn nhớ thương cho người ở lại. Tập thơ gồm 134 bài thơ trong đó có
phần thơ chữ Việt (chiếm đa số), phần Mượn Vần Thơ Bạn, phần thơ chữ
Hán, phần dịch Cổ Thi và phần Thương Tiếc (Khóc cố nhân, Khóc chồng).
Thi phẩm dày 160 trang với tấm hình bìa vẽ lên một khung cảnh hết sức
gợi cảm man mác sầu vương, với giòng sông Thương và con thuyền neo bến
đỗ, trên không hai cánh chim bay đi về phương trời vô định như định mệnh
của đôi thi sĩ khi xuôi Nam.
Nhà thơ Liễu Thuận Khanh trong bài đề tựa cho thi phẩm STMB đã viết “ “
Năm ấy. mùa binh biến phút chốc rộ lên. Gió ly hương từ ngàn xa thốt
nhiên thổi tràn qua khắp nẻo không sót chốn nào. Qua luồng gió ấy, với
sức bé bỏng của mình, tôi không tài nào bám lại được quê hương, đành
phải bỏ đất, bỏ cánh rừng tràm u minh bồng bềnh trôi dạt, cho đến một
lúc không còn nơi nào trôi đi được nữa nhìn lại mới biết đây là đất
Sàigòn“.
Bác Đan Phụng cho biết,
trong các loại thơ, Bác thích nhất là thơ Đường luật bởi nó không dài
giòng. Chỉ có 8 câu thất ngôn bát cú (gồm cả 4 câu tứ tuyệt) nhưng nó
nói lên trọn vẹn cả một đề tài. Về niêm luật chặt chẽ phải tuân theo,
người sáng tác cũng cần phải có vốn liếng khá về chữ nghĩa – càng biết
chữ Nho càng hay vì chữ Nho sâu sắc lắm. Nhưng khi người thưởng lãm hiểu
được tính sâu sắc của những từ ngữ trong bài thơ thì đó quả là một điều
thích thú! Còn người sáng tác có lẽ còn thích thú hơn nhiều khi nặn óc
ra được một từ vừa ý. Những khi tìm tứ tìm từ như vậy, người thơ đã phải
thao thức suốt canh thâu, có khi cả nhiều đêm suy nghĩ chỉ một bài thơ,
nếu không chỉnh cả ý và lời thì tự nó đã không hay rồi thì làm sao cảm
xúc được lòng người đọc. Bác công nhận thơ Đường khó làm, bởi thế người
sáng tác thơ Đường luật phải tự nghiêm khắc với chính mình mới mong có
được bài thơ hay. Ở Việt Nam, Bác Đan Phụng có rất nhiều bạn thơ ở cả
hai miền Nam Bắc, cùng thời và cùng yêu thích thơ Đường. Còn tại Úc chỉ
có hai ba vị, song tất cả các bạn thơ dù đã thâm giao hay mới quen biết
vài năm nay cũng đều tha thiết gắn bó với Bác và dành cho Bác tình yêu
mến, tình thơ đúng nghĩa của những người thơ đối với nhau.
Đêm ấy, người nữ thi sĩ
khả kính Đan Phụng đã hiện diện nơi đây trong khung cảnh xa quê nhưng
ấm cúng vui vẻ tình cháu con, bằng hữu. Bác Đan Phụng như một hiền mẫu
làm dâng lên trong lòng khách tha hương những rung động ngọt ngào. Trên
đời này, nếu có một tình cảm nào sâu thẳm nhất, rộng lớn nhất, cao vời
nhất, vô hạn nhất; tình cảm hy hữu đó chính là tình yêu của người Mẹ đối
với con mình. Hầu hết những tác phẩm điêu khắc, hội họa, những bài thơ
bài hát, những bản nhạc nói về Mẹ đều là những tác phẩm hay, những tuyệt
tác dễ đi sâu vào lòng người, lắm lúc làm chúng ta rơi lệ. Ta chắc hẳn
không quên những câu ca dao mộc mạc để đời “Công cha như núi Thái sơn, Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra” hay “Mẹ là cả một đại dương, Mẹ là cả một thiên đường trần gian” hay “Lòng Mẹ bao la như biển Thái bình dạt dào“.
Tình Mẹ bao la như thế nên chúng ta đã thấy một Y Vân với bài Lòng Mẹ; bài thơ “Bông hồng cài áo”
được Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ phổ nhạc và còn biết bao nhiêu tác phẩm khác
nữa nói về Mẹ. Thế nên sung sướng thay những ai còn Mẹ và sống gần gũi
với Mẹ. Nói đến Mẹ là nói đến chữ Hiếu của người con hiếu thảo. Như
người con bị tù oan đã dâng lên Mẹ bát canh hẹ, như Giới Tử Thôi lóc
thịt nuôi Mẹ trong cơn nguy nàn trên rừng sâu. Một niềm hiếu kính hết
lòng phụng dưỡng, vâng lời dạy bảo, làm tròn bổn phận là sự báo ân thiết
thực của người con đối với cha mẹ lúc sinh tiền.
Ngày vui của Bác Đan
Phụng rộn rã những vần thơ họa của các thi sĩ trong và ngoài nước gửi về
chúc tụng. Bài xướng cảm khái do chính Bác Đan Phụng gieo lên nhân ngày
mừng tuổi thọ 81 của chính mình không phải là một bài thơ tự kỷ mà lại
là những vần thơ Đường tuyệt tác chứa đựng tấm lòng thương nhớ quê hương
và tha nhân. Chúng ta hãy lắng hồn để nghe tâm sự của một người Mẹ còn
đang xa quê hương đất tổ:
“Xuân nay mừng ngoại bát tuần rồi, Nhớ lại hương đời vị ngát môi, Con cháu thảo hiền vui dạ lão, Phu quân tao nhã đẹp duyên hài, Tình nhà nghĩa bạn tâm còn nặng, Nợ bút niềm quê trí chẳng vơi, Những ước giòng Thương thêm nước ngọt, Cho cây Nhân Ái mãi sinh chồi!”
Bác Đan Phụng chính là
giòng Thương thêm nước ngọt và một loạt những bài thơ họa chúc mừng gửi
về tới tấp như cây Nhân Ái mãi đâm chồi. Như bài họa “Mừng khánh thọ bát
tuần” của thi sĩ LT Khanh tức nghĩa đệ của bà ở VN; bài họa “Khánh thọ
Bác Đan Phụng” của nhà thơ Nam Man LN Triều (NSW); bài họa của Trường
Xuân Lão PV Tùng (QLD) có tựa đề “Tuổi thọ với Nàng Thơ”; bài “Kính mừng
thọ Bác Đan Phụng” của đồng môn LT Hổ (NSW); bài thơ tự diễn “Mừng tuổi
thọ Bác ĐP” của Nguyên Dự (QLD); bài thơ tự ngâm của Gs ĐH Nga (QLD);
bài họa “Phụng nở mùa Mai” của Sư cô Thích nữ Như Phương (tức thi sĩ Đàm
Liên thuộc chùa Vô Ưu Sài gòn); bài “Chúc Thọ” của Thanh Viêm và Thi
Trâm (ở Canberra); bài họa của Băng Thanh (bạn đồng học); bài “Mừng Thọ”
tặng hiền tỷ Đan Phụng của một thi đệ ở VN; bài họa “Chúc mừng sinh
nhật người thơ ĐP” của Thiên Đức; bài “Mừng Bác Đan Phụng” của nhà văn
kiêm thi sĩ Nguyễn Tư (NSW) và cuối cùng là bài thơ “Trẻ già ai quý hơn
ai?” của Trưởng Tuấn Việt (QLD)
Bàn về những vần thơ
của Bác Đan Phụng, đồng môn LT Hổ (NSW) trong bài viết dành cho Đặc san
Xuân Tây Ninh đồng hương hội có ghi lại như sau: “Những
vần thơ của Bác ĐP mặc dầu diện mạo còn vương vướng thể loại truyền
thống, nhuôm nhuốm chút màu cổ điển, nhưng nó đã được thêu kết bằng
những âm ngữ mướt mịn, tỏa ánh bao sắc hương tình cảm bay cao. Có cái gì
đó thật đoan trang nề nếp mà lại duyên dáng trẻ trung, thiết tha nóng
bỏng mà thủy chung đôn hậu. Đã vượt ra khỏi khung thưa Đường luật những
tứ thơ mênh mang linh động, đã tua tủa những chồi non lộc mới vươn ra
khỏi thân cây cổ thụ già nua: “Đã nói không thương lại vẫn thương, Đời
sao nặng nợ với yêu thương?!. Thương mãi người đi biệt bến Thương”. Được
như vậy là nhờ có một hồn thơ, đúng hơn là một Nàng Thơ sung mãn sức
lực, luôn luôn tươi tắn, dịu hiền ngự trị trong tâm hồn Bác Đan Phụng.
Nàng thơ ấy chính là nàng Tiên huyền diệu đã ít nhiều phò trì cho một
xác thân bậc thượng thọ vẫn bình an khương kiện, ban phước lành cho một
tâm hồn trưởng lão luôn được sáng suốt trẻ trung.”.
Trong các bài thơ của Bác Đan Phụng, bài “Tương tư khúc” có một vị trí thật đặc biệt.
Riêng người viết, nhờ
có duyên với nàng thơ nên Bác Đan Phụng thường viết tặng những bài thơ
mới nhất Bác vừa cảm tác (luôn luôn là bản chép tay, thủ bút của chính
Bác trên các trang giấy học trò). Như bài “Về thăm chốn cũ tưởng niệm cố nhân” và bài “Xuân về lại nhớ tri âm” để tưởng niệm hương linh phu quân Tú Phan nhân dịp Bác về thăm QLD. Ngoài ra còn có các bài thơ “Rừng chiều” họa bài “Đường chiều” của thi sĩ LTKhanh (ở VN), bài “Bát tuần tự sự” viết nhân ngày sinh nhật thứ 80 của Bác tại Sydney.
Trong lá thư năm xưa gửi cho người viết, Bác Đan Phụng có tâm sự như sau: “Bác
xin ghi nhận tình cảm quý hóa của hai cháu đã dành cho Bác. Nhận được
băng cassette thâu cuộc mạn đàm giữa hai bác cháu hôm ấy và hai tấm ảnh
kỷ niệm ngày bác về thăm QLD, bác vui lắm! Đời bác luôn luôn trân trọng
kỷ niệm của cuộc đời mình. Bác chép hai bài thơ mới làm để tặng hai cháu
đọc, gọi là để đáp lại tình tri ngộ, mong hai cháu được một vài phút
vui trong lúc thanh nhàn, bởi người đời có câu “Gươm vàng để tặng Tráng
sĩ, Son phấn để tặng Giai nhân” – thì Bác muốn tặng thơ mình cho khách yêu thơ các cháu ạ!” Thật là cảm kích!
Đêm ấy, sau phần giới
thiệu thơ của các bạn bè, thi hữu, bằng hữu muôn phương là đến phần cắt
bánh và chúc rượu. Cả gia đình 6 người gồm anh chị Phạm Cao Tùng cùng
các cháu và người Mẹ yêu bước lên sân khấu đã ngõ lời cám ơn quý quan
khách và bạn hữu đến chung vui và anh Cao Tùng cho biết đây là cả gia
tài duy nhất của anh tại Úc. Bác Đan Phụng vẫn còn khỏe khoắn, vui vẻ
trong chiếc áo dài nhung màu mực tím, cắt chiếc bánh khánh thọ ngọt
ngào.
Cuối cùng bài thơ “Tương Tư Khúc”
của Bác Đan Phụng sáng tác tại Sydney vào mùa Thu năm 2002 với những
lời thơ tha thiết đã được trưởng nam Cao Tùng phổ nhạc. Nét nhạc tuyệt
vời với cung La thứ đã quyện vào hồn thơ như món quà tinh thần cao quý
của người con trai yêu dấu kính dâng lên Mẹ những vần điệu lung linh, kỳ
diệu và qua tiếng hát say đắm rất Bắc, rất ít nghe của chị Hải Phong
như tiếng hót của loài chim quý qua sự hòa âm của ban nhạc gia đình
Mimosa, quý khách đã cảm nhận được trọn vẹn hương vị ngọt ngào của một
đêm vui mừng khánh thọ chan chứa tình người.
Trên đường về trong đêm mưa, người viết như lịm hồn vào bản Tương Tư Khúc:
“Nhớ sông núi bạc mái đầu, Nhờ mây cậy gió chở sầu tương tư. Từng giọt nhớ mưa thu gieo rắc, Ngoài hiên thu gió hắt hiu buông, Trông về cố quận thê lương, Nhớ người đi biệt ngàn phương mịt mù Tiếng quốc gọi ai hoài tình nước, Khúc tiêu sầu não nuột hồn thơ, Trời thu bàng bạc sương mờ, Sầu dâng man mác bên bờ Sông Thương Dòng thu cảm mang mang vô tận, Khúc tương tư mãi tặng cố nhân, Niềm riêng gửi áng mây Tần, Xin vì ta chở mấy vần nhớ thương!”
• Nhạc phẩm
Tương Tư Khúc do anh Cao Tùng phổ nhạc và đã cất lên tiếng hát của anh
với lòng kính Mẹ qua link YouTube sau đây. Mời quý Văn Thi Hữu mở ra
nghe. Đây là bản nhạc quá ư là tuyệt vời!
Và sau đây là hai bài thơ chúc mừng ngày Đại thượng thọ 90 của Cụ Bà:
BÀI THƠ CHÚC MỪNG NGÀY ĐẠI THỌ 90 CỦA BÁC NỮ THI SĨ ĐAN PHỤNG/QLD (Quý tặng Thân mẫu Đồng môn Phạm Cao Tùng)
Họp mặt Tình thơ vẫn thiết tha Chín mươi Đại Thọ thắm duyên Bà Bốn đời Nội chắt xinh như ngọc Ba cặp Mẹ con đẹp tựa ngà Cháu thảo vầy duyên bừng ý sống Con hiền trọn hiếu rộn lời ca Nhâm Thìn yến tiệc tràn ân phước Chúc Đại gia đình ngát kiệu hoa.-
• NVSanh (Đại diện Gia đình QGHC/QLD)
BÀI 2: ĐẠI THỌ 90 TƯỞNG VỀ CỐ QUỐC! (Họa bài Mừng Tuổi Thọ 89)
Xuân về tô thắm một Đài hoa Đan Phụng nhà thơ óng ngọc ngà Tuổi hạc thiên duyên không sánh kịp Thi đàn văn bút khó mà qua Yêu non nhớ nước càng xuân sắc Mến cháu thương con mãi hiệp hòa Trãi Chín Mươi Niên tròn Đại Thọ Hướng lòng cố quốc dẫu còn xa.
• NVSanh (Đại diện Gia đình QGHC/QLD)
Cuối cùng, xin mượn hai giòng thơ cuối của ông bạn già thi sĩ LN Triều ở NSW để kính chúc Bác “Con có dăm vần xin chúc Bác, Ngày Trời tháng Phật gió mưa xuân“ và ông bạn già PV Tùng ở QLD đã reo lên niềm vui “Cơn mưa tình cảm tuôn vào đất, Cây quý vườn thơ đã mọc chồi“ .
Thấy như Trời Phật luôn
độ trì đời sống Bác và những cơn mưa đầu Xuân đã làm đâm chồi nẩy lộc
thêm những cành non tươi tắn trong vườn thơ vốn đã rực rỡ của Bác Đan
Phụng./-