Nhóm 1% QGHC - Thông tin nội bộ QGHC Tỵ Nạn Hải Ngoại. Thiết lập từ 2008- Email Liên Lạc: cnguyqghc@gmail.com
Sunday, May 3, 2020
Friday, May 1, 2020
CHÚT KÝ ỨC VỀ MỘT QUÃNG ĐỜI SAU NGÀY 30 THÁNG 4-1975.
*Lê Nguyễn (Lê Văn Cẩn-ĐS10)
Trong cuộc sống của mỗi người, có những quãng đời gợi lại cho chúng ta nhiều kỷ niệm khó quên. Với tôi, cứ vào mỗi tháng tư, đó là kỷ niệm về những ngày sống ở các trại cải tạo Long Thành và Xuyên Mộc, với những nhân vật đồng cảnh ngộ mà nhiều người biết đến tên tuổi trong xã hội.Nói về đời tù thì phải bắt đầu từ cái ngày 15.6.1975, xách gói ra trường Trưng Vương, Sài Gòn,trình diện cải tạo theo yêu cầu “mang theo tiền bạc,đồ dùng đủ xài trong một tháng”. Trại cải tạo Long Thành nguyên là Làng cô nhi Long Thành dưới quyền điều hành của một người tên Tư Sự, sau 30.4.1975, nghe đâu từng là một “cơ sở cách mạng”.Ngôi làng cô nhi này từng một thời là một trung tâm từ thiện nức tiếng, ngày chủ nhật hàng tuần, người thiện tâm lên thăm viếng nườm nượp, hỗ trợ tiền bạc, thực phẩm, thuốc men. Từ tháng 6.1975, làng cô nhi biến thành Trường HTCT rồi Trại CT Long Thành. Trái với các trung tâm cải tạo tại các tỉnh do địa phương quản lý, trại CT Long Thành đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Cục trại giam Bộ Nội vụ nên mang danh số 15 NV. Trại chứa khoảng 3 ngàn người có dây mơ rễ má với chế độ VNCH, chia thành 4 khối:- Khối 1: viên chức các thành phần, gồm viên chức hành chánh từ cấp Phó Ty, Phó Quận đến Phó Tổng thống, các dân biểu, nghị sĩ, các thẩm phán (Chánh án, Biện lý, Phó Biện lý, Dự thẩm)- Khối 2: đảng viên các đảng phái “phản động”: Việt Nam Quốc Dân đảng, đảng Đại Việt, đảng Dân Chủ …, từ cấp Phó Bí thư Quận-Huyện trở lên- Khối 3: Nhân viên Phủ Đặc ủy Trung Ương Tình báo từ trung cấp trở lên- Khối 4: Sĩ quan cảnh sát từ Thiếu tá trở lên.4 khối này chia nhau khoảng 10-11 dãy nhà, mỗi nhà mang một số thứ tự từ 1 trở đi, có 4 gian rộng, chứa khoảng trên dưới 300 người. Tất nhiên, khối 1 là sự tập hợp thành phần tinh túy của một chế độ vừa sụp đổ, có người từng là Chủ tịch Tối cao Pháo viện như cụ Trần Minh Tiết, có người từng là Chủ tịch Hạ viện như cụ Nguyễn Bá Lương, có người từng là Bộ trưởng Tài chánh rồi Cố vấn Tài chánh Phủ Tổng thống như cụ Lưu Văn Tính, có người tùng là Trưởng phái đoàn VNCH trong Hội đàm Ba Lê như ông Nguyễn Xuân Phong, có người là kiến trúc sư lừng danh như ông Ngô Viết Thụ …, thôi thì đủ cả! Khối 2 có hai nhân vật nổi bật là cụ Vũ Hồng Khanh, nguyên lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng, thành viên chính phủ Liên hiệp kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và từng cùng ông Hồ ký với đại diện chính quyền Pháp Sainteny bản Hiệp định sơ bộ Hạ Long 1946. Năm 1975, cụ Khanh đã 77 tuổi, có lẽ là người tù lớn tuổi nhất lúc bấy giờ.Người thứ hai là luật sư Nguyễn Lâm Sanh, cương vị cuối cùng trong chế độ VNCH là Phó Chủ tịch Liên minh Á châu chống Cộng (chủ tịch là ông Phan Huy Quát, nguyên Thủ tướng Chính phủ), nghe kể lại từng mở văn phòng luật sư chung với ông Nguyễn Hữu Thọ, trước khi ông Thọ bỏ ra khu. Khoảng tháng 9-10.1975, có một đoàn căn cước của Bộ Nội vụ (sau là Bộ Công An) lên trại Long Thành làm hồ sơ căn cước từng người, lúc đó luật sư Thọ là Phó Chủ tịch nước. Nghe đâu lần này, một người con trai ông Thọ có tháp tùng đoàn công tác trên để thăm cụ Lâm Sanh.Ở khối 3, có một chuyện cười ra nước mắt: thông báo trình diện tập trung cải tạo định rằng thành phần công chức từ trung cấp trở lên của Phủ Đặc ủy TUTB đều phải trình diện, mà theo chế độ công chức của chính quyền VNCH, thư ký các loại được xếp vào thành phần công chức hạng B (trung cấp). Vì thế, thành phần đi trình diện tập trung cải tạo này có hàng trăm cô thư ký đánh máy của cơ quan trung ương tình báo này. Mãi đến 6 tháng sau, có lẽ duyệt xét thấy họ chỉ là những thư ký đánh máy thông thường, “chỉ đâu đánh đó”, Cục trại giam Bộ Nội vụ đã trả tự do hàng loạt, ngày họ về đông như mở hội. Đúng một năm sau, khoảng giữa năm 1976, việc thanh lọc các thành phần “học viên” hoàn tất, những ai xét “không có tội” được cho về, những ai “có tội” được ghi danh trong một văn bản chi tiết là quyết định 3 năm HTCT. Còn nhớ trong văn bản này ghi rõ hai chi tiết:- Ai học tập tốt, “lập công chuộc tội”, được xét cho về trước thời hạn
- Ai không chịu học tập, còn có tư tưởng chống đối, sẽ kéo dài thêm thời gian học tập.Như vậy, cũng có thể mặc nhiên hiểu là ai không lập công, cũng không chống đối, sẽ được về sau khi hết hạn 3 năm. Song điều này đã không xảy ra trên thực tế. Trong những năm 1975-1978, tại trại Long Thành, có hai đợt tập trung ra Bắc mà anh em tù gọi vui với nhau là đợt “bao bố 1” và “bao bố 2”. Danh xưng này ra đời trong hoàn cảnh như sau: một buổi sáng nọ, gần 3 ngàn trại viên được đưa lên Hội trường, nơi vẫn thường được nghe các cán bộ từ Sài Gòn lên thuyết giảng (trong đó có lần người thuyết giảng là nhà biên khảo văn học Hoài Thanh, đồng tác giả quyển Thi Nhân Việt Nam). Nhưng buổi sáng hôm đó không có là một bài thuyết giảng nào. Đó là buổi tuyên đọc một thông báo mà khi nghe qua, cả một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng của từng người trại viên một. Lệnh rằng ai có tên trong danh sách sắp đọc thì đi nhận một chiếc bao bố, về nhà dồn hết đồ đạc riêng vào đó để trại chở đi trước. Đó là một bất ngờ lớn nhất, không ai lường trước được và sự nhớn nhác, lo sợ bao trùm cả trại mấy ngàn người suốt một ngày liền. Cuối cùng thì số cả ngàn bao bố đựng vật dụng tùy thân và chủ nhân của chúng cũng được đưa về trại 16 NV tại Thủ Đức trước khi xuống tàu ra Bắc.Chuyến “bao bố 2” diễn ra một thời gian khá lâu sau đó, lần này đã quen rồi, sự xúc động không còn dâng cao như trước. Sau chuyến này, còn lại tại trại Long Thành khoảng 200 người thuộc khối 1 (các khối khác đã đi hết), có lẽ chờ để đi chuyến “bao bố 3”Nhưng chuyến đi vét “bao bố 3” đã không xảy đến, có lẽ do ít nhất 2 lý do quan trọng:
Hạ viện VNCH, cụ Nguyễn Văn Tho, cựu Trưởng khối Dân tộc Thượng Nghị Viện và cụ Cao Xuân Thiệu, một viên chức cao cấp lâu năm của chế độ cũ, cháu trực hệ của đại thần Cao Xuân Dục, Thượng thư bộ Học, Phụ chánh đại thần triều Duy Tân. (Từ “cựu” sử dụng trong trường hợp người đang được nói tới không còn giữ chức vụ trong một thời gian trước ngày 30.4.1975)Trong số những người được chuyển đến trại trước chúng tôi, có ít nhất bốn người thuộc thành phần văn nghệ sĩ: nhà văn Duyên Anh, đội trưởng đội rau xanh số 17, nhà trưởng nhà 2 (tạm gọi theo thứ tự từ nhà 1, tính từ hàng rào trở vào), họa sĩ Đằng Giao, đội trưởng đội rau xanh số 19, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, tác giả những tập truyện nổi tiếng: Kỳ Hoa Tử, Truyện Ba Người Lính Nhảy Dù Lâm Nạn… và học giả Hồ Hữu Tường.
VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN MẠNH CÔN -Vừa nhập trại Xuyên Mộc vào buổi chiều thì buổi tối chúng tôi nhận được tin “nóng” đầu tiên về Nguyễn Mạnh Côn. Nghe kể rằng cách đó mấy ngày, trong một buổi sinh hoạt có cán bộ trại tham dự, ông Côn đứng lên dõng dạc tuyên bố là thời hạn ba năm cải tạo đã hết, ông cần được đối xử như một công dân. Các tù CT trẻ thuộc thành phần hiện hành vốn ngưỡng mộ nhà văn, cũng nhao nhao lên đồng tình ủng hộ.Cuối cùng ông Côn bị kết tội xách động và bị biệt giam. Khoảng một tuần lễ sau, có tin gia đình ông lên thăm nuôi, bị từ chối cho gặp, vì theo qui chế trại giam, người bị kỷ luật biệt giam không được hưởng những ân huệ hay quyền lợi như người tù bình thường, như không được ăn đúng khẩu phần, không được thăm nuôi …Không nhớ bao lâu sau nữa, ông Côn được thả về nhà ở cũ (nhà 2), có lẽ do lúc đó, sức khỏe của ông đã gần suy kiệt. Buồn hơn nữa là vào một buổi trưa đi lao động về, nhiều anh em được tin sáng hôm đó, mấy cậu trật tự (là quân phạm của chế độ mới) dẫn giải nhà văn lên cán bộ trực trại (một người tên Hưng, một người tên Độ) vì bắt quả tang ông Côn lục túi đựng đồ đạc của một đồng phạm, lấy một gói mì tôm. Sự tủi nhục của một con người đến mức đó là cùng. Nhiều bạn tù với ông không nghĩ là ông tệ đến thế. Trong đời sống trại giam, việc hai ba người góp gạo ăn chung với nhau là chuyện phổ biến, việc ông Côn lấy gói mì của một người ăn chung, hay của một người thường xuyên chia sớt cơm gạo với ông, và bị bọn trật tự muốn lập công làm nhục là điều có thể xảy ra. Lúc bấy giờ, nhà 1, nơi tôi ở, với nhà 2, nơi ông Côn ở (nhà trưởng là Duyên Anh), chỉ cách nhau khoảng 8 mét, ngăn đôi bằng một hàng rào kẽm gai. Chiều chiều, anh em mỗi nhà tập trung ngoài khoảng sân bên hông nhà, ngồi thành hàng lối để các cán bộ trực trại đến điểm số và lùa vào nhà, khóa cửa lại. Một buổi chiều, tôi ngồi chờ điểm số, ngó sang sân của nhà 2 qua hàng rào kẽm gai và nhìn thấy ông Côn ngồi ở đầu hàng. Ông gầy rộc như một bộ xương, thần sắc ông không còn một chút tinh anh nào, và tôi linh cảm một kết thúc đang đến rất gần với ông. Thật vậy, chỉ mấy ngày sau là ông qua đời.Sau này, nghe đâu, sự biệt giam và cái chết của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn là một trong nhiều lý do khiến nhà văn Duyên Anh phải hứng chịu những cách hành xử thô bạo ở nước ngoài. Người ta qui một phần trách nhiệm cho anh với tư cách là nhà trưởng nơi ông Côn ở. Đây là điều mà chỉ những người sống ở nhà 2, gần gũi, thân tình với cả 2 người có liên quan mới có thể nắm được mọi tình tiết.
Riêng người đang kể câu chuyện này chỉ có một hình dung rõ nét về một nhà trưởng Duyên Anh mỗi chiều thường xuyên chạy ra chạy vào thét lác anh em sớm tập họp điểm số. Phải chăng sự “năng nổ” và có phần nóng tính này là nguyên nhân gây ra những tai tiếng về anh? Khác với Duyên Anh là đội trưởng đội Rau xanh số 17, họa sĩ Đằng Giao (Trần Duy Cát), đội trưởng đội Rau xanh số 19, là con rể nhà văn Chu Tử, sống điềm đạm hơn, ít nói hơn (có lẽ do anh không làm nhà trưởng), nên về sau này, không ai gán cho anh tai tiếng gì. Tôi chỉ có một kỷ niệm nhỏ về anh: ngày đó, ngôi nhà chúng tôi đang ở cần tu sửa gấp, chúng tôi bị phân tán đi nhiều nhà, tình cờ, tôi “lạc” vào nhà có Đằng Giao ở và cơ duyên đưa đẩy anh và tôi được một lần nằm cạnh nhau, kể chuyện cho nhau nghe gần suốt một đêm dài…NGUYỄN BÁ LƯƠNG – Những năm 1968-1970, khi tôi về làm ở quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang thì anh Nguyễn Hảo T. làm Trưởng Chi Bưu Điện quận. Người ta cho biết anh T. là con rể cụ Nguyễn Bá Lương, đương kim Chủ tịch Hạ Nghị Viện.
Trước khi đắc cử dân biểu Quốc Hội, cụ Lương là Trưởng Ty Bưu Điện Phước Long.Vào nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên của nền đệ nhị Cộng hòa tại miền Nam, mọi hoạt động đều hướng về mục tiêu dân chủ hóa đời sống xã hội. Dù nền dân chủ còn non trẻ, nhưng các luật gia giỏi đã xây dựng được cho miền Nam lúc bấy giờ một tập quán dân chủ theo cách tổ chức của phương Tây. Để hoạt động được hữu hiệu, tránh cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”, phía Hành pháp tiến hành ráo riết các cuộc vận động hành lang để lôi kéo nhiều dân biểu, nghị sĩ nghiêng về phía thân chính quyền hầu đạt được túc số cao trong những cuộc biểu quyết các vấn đề quan trọng.Nhân vật được Phủ Tổng thống lúc bấy giờ sử dụng cho công tác quan trọng này có hai người, một là dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, chủ nhân nhà bào chế OPV, hai là ông Nguyễn Văn Ngân, thường được báo chí gọi tắt là Phụ tá Ngân. Họ giữ cương vị Phụ tá đặc biệt tại Phủ Tổng thống, xếp ngang Bộ trưởng về mặt hệ cấp (một phụ tá nữa là ông Huỳnh Văn Trọng, phụ tá về chính trị, dính vào vụ án “bí mật đi đêm” với phía miền Bắc và Mặt trận DTGPMNVN).Cũng xin tạ lỗi với vong linh cụ Lương để nhắc lại ba “hỗn danh” mà giới báo chí và các dân biểu đối lập (với phía Hành pháp) đã đặt cho cụ như một sự chế nhạo, nào là “hồi dương liệt lão” (có lẽ do cụ thường xuyên tẩm bổ trong lúc điều khiển phiên họp), nào là “ông già xào mì”, “ông già Bửu Hiệp” (có lẽ do ông quen thân với bà chủ xe đò Bửu Hiệp, chạy đường Phước Long, Sài Gòn). Đó cũng là cách các giới trên phản ứng lại với “Phủ đầu rồng” (Phủ Tổng thống) trong việc hậu thuẫn cho một người có thể làm lợi cho hoạt động của phủ.Sang nhiệm kỳ 2 của Quốc Hội VNCH, chức vụ Chủ tịch Hạ viện về tay ông Nguyễn Bá Cẩn, tốt nghiệp khóa đầu tiên trường Quốc Gia Hành Chánh (đầu thập niên 1950), từng làm Quận trưởng thời chính quyền Ngô Đình Diệm, sau đó là Phó Tỉnh trưởng tại nhiều tỉnh.
Tháng 4.1975, trong chính phủ áp chót của chế độ VNCH, ông Cẩn là Thủ tướng Chính phủ, người viết bài này còn giữ nghị định được ông bổ nhiệm vào một chức vụ lãnh đạo kinh tế cấp tỉnh. Nghị định ký ngày 22.4.1975, về đến địa phương ngày 28.4, chỉ còn không đầy 2 ngày cho sự kết thúc của một chế độ.Tháng 6.1975, cụ Nguyễn Bá Lương cũng trình diện HTCT tại trại CT Long Thành (tên ban đầu là Trường 15 NV). Tháng 9.1979, trong lần chuyển trại, khoảng 150 trại viên tại trại Long Thành được đưa lên trại Xuyên Mộc mới lập. Mỗi xe chở khoảng 30 người, chỉ có một cán bộ áp giải nên để an toàn, cứ hai người chia nhau một chiếc còng số 8, cụ Lương cùng cụ Nguyễn Văn Tho, Trưởng khối Dân tộc Thượng viện được miễn còng, nhưng phải ra ngồi sát ca-bin xe.Đến Xuyên Mộc, cụ Lương ở chung một đội với tôi. Chúng tôi lao động rất nặng nhọc trong rừng: thu dọn cây cối ngã rạp do đội Lâm sản đi trước cưa đổ, vỡ đất rừng cứng như xi-măng để trồng khoai lang, trồng bắp, cụ Lương được phân công công việc nhẹ nhàng hơn: lượm lặt chà cây, chất đống. Lúc này, tôi mới có dịp tiếp xúc nhiều với cụ, tôi hỏi cụ về anh Nguyễn Hảo T. đã nhắc ở trên, cụ xác nhận đúng là rể cụ. Tại Xuyên Mộc, người tù CT sau mỗi buổi lao động, được tắm sạch trên một khúc sông Ray, từ nổng cao xuống đến bờ sông phải lên xuống một đoạn dốc dứng hàng chục thước. Với chút dây mơ rễ má đó, tôi thường xuyên nắm tay cụ Lương, dìu cụ đi từng bước lên khỏi đường dốc, mà nếu đi một mình, cụ không bao giờ lên nổi.Lần cuối cùng tôi dắt tay cụ Lương lên khỏi dốc là một chiều thứ sáu. Tại dãy nhà 1, nơi cụ và tôi cùng ở, chỗ ngủ có 2 tầng, bọn trẻ thích ở tầng cao, ban đêm được chút ánh sáng, khoảng khoát hẳn; người có tuổi và những anh trẻ ngại leo trèo thì nằm tầng dưới. Tôi nằm tầng trên gần cửa ra vào, còn cụ Tho và cụ Lương thì nằm tầng dưới, phía trong dãy nhà, hai cụ già hủ hỉ với nhau.Sáng chủ nhật hôm đó, chỉ sau hơn một ngày kể từ buổi chiều tôi dắt tay cụ lên khỏi dốc ở sông Ray, cụ Tho thấy người bạn già vẫn chưa dậy sớm như mọi khi, bèn thò tay vào mùng cụ Lương lay bạn dậy thì cơ thể cụ đã lạnh ngắt tự bao giờ. Cụ Tho tri hô lên, người ta xúm lại thu xếp, khiêng cụ Lương đi qua chỗ tôi nằm, tôi chỉ kịp nhìn thoáng thấy cụ lần cuối.HỒ HỮU TƯỜNG – Với nhân vật này, nhiều sách báo, tư liệu đã viết khá đầy đủ về cuộc đời của cụ. Ở đây, chỉ xin được kể lại một vài điều mắt thấy tai nghe để bổ sung chút nào vào khối tư liệu về cụ.Trong thời tuổi trẻ của mình, lần đầu tiên tôi biết tên tuổi cụ Hồ Hữu Tường qua tác phẩm Phi Lạc Sang Tàu xuất bản khoảng những năm 1945-1946. Cụ nổi tiếng với tập truyện này vì qua những câu chuyện nửa hư, nửa thực có hướng tiên đoán thời cuộc thế giới, cụ đã dự đoán trúng phóc một sự kiện sẽ xảy ra 3-4 năm sau đó: đó là sự kiện lực lượng quân sự của Mao Trạch Đông chiếm lấy toàn bộ đại lục Trung Hoa vào năm 1949.Khoảng những năm cuối thập niên 1940, đầu thập niên 1950, cụ Hồ Hữu Tường sống ở Paris, Pháp, chủ trương nhà xuất bản Đông Phong, ấn hành một số tác phẩm, trong đó có ít nhất 3 tác phẩm của cụ là: Thu Hương, Chị Tập và Gái nước Nam làm gì. Giữa thập niên 1950, cụ đã về Việt Nam, hợp tác với các lãnh tụ tổ chức Bình Xuyên, với vai trò cố vấn (theo báo chí, tài liệu đương thời).
Sau khi lực lượng Bình Xuyên bị tiêu diệt, cụ cùng một số nhân sĩ bị truy tố ra tòa khoảng năm 1957 và bị kết án tử hình, giam tại trại giam Côn Đảo.Sau ngày lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm (1.11.1963), cụ Hồ Hữu Tường cùng những bạn tù chung vụ được trả tự do. Năm 1964, cụ đăng loạt bài “Trầm tư của một người tội tử hình” trên tạp chí Bách Khoa, và cho xuất bản nhiều tác phẩm như “Phi Lạc bỡn Nga”, “Phi Lạc náo Hoa Kỳ”, “Diễm Hồng xuất giá”, “thằng Thuộc con nhà nông” ….Năm 1967, cụ Hồ Hữu Tường bắt đầu lại cuộc đời hoạt động chính trị qua việc ứng cử dân biểu Quốc Hội. Trong thời gian vận động tuyển cử, Đài phát thanh Sài Gòn dành cho mỗi ứng cử viên một thời lượng phát biểu ngang nhau và lời phát biểu của cụ Tường là độc đáo hơn cả. Trong lúc hầu hết ứng cử viên vẽ ra những chương trình hoạt động đao to búa lớn, cụ phát biểu khá vắn tắt, đại khái chỉ nói rằng cụ nguyện làm cục đá, đồng bào có lăn vào Quốc Hội thì lăn.Và cử tri đã “lăn” cụ vào thật. Hoạt động của cụ tại Quốc Hội cũng không thấy có gì nổi bật, ngoại trừ sự kiện vào đầu tháng 9.1969, sau khi có tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời ở miền Bắc, cụ đứng giữa Hạ viện, đề nghị lập phái đoàn ra Hà Nội phúng viếng. Tất nhiên, đề nghị của cụ không được chính thức tán đồng.Năm 1971, trong lần bầu cử Quốc Hội khóa sau (1971), cụ Hồ Hữu Tường và con trai là kỹ sư Hồ Xích Tú (được cụ dùng tên để mô tả nhân vật Xích Tử trong Phi Lạc Sang Tàu) cùng ra tái cử và ứng cử, song đều thất cử.Về đời sống chính trị của cụ Hồ Hữu Tường, nhiều người biết cụ thuộc nhóm trí thức miền Nam theo nhóm Đệ Tứ quốc tế mà hai người nổi bật là Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu. Trong thời gian sống ở Pháp, cụ quen biết với một số nhân vật có tiếng, và sự kiện được nhiều người nhắc lại là lá thư của văn hào Albert Camus, giải Nobel văn chương 1957, gửi cho chính quyền Ngô Đình Diệm, đề nghị trả tự do cho cụ, sau bản án tử hình tuyên cho cụ vào năm 1957.Vào những năm 1960, một trong những đòi hỏi của chính quyền miền Bắc và nhiều thành phần chống lại chính quyền VNCH là trung lập hóa miền Nam Việt Nam. Tất nhiên, đòi hỏi này bị chính quyền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa chống lại triệt để, với lập luận cho rằng trung lập hóa là bước khởi đầu của việc Cộng sản hóa toàn bộ miền Nam. Trong những dịp này, người ta nhắc nhiều đến chủ thuyết Trung lập của cụ Hồ Hữu Tường, song cũng nhiều lần cụ minh xác là thuyết của cụ là Trung lập chế và không giống với hình thức trung lập hóa miền Nam đang là đề tài sôi nổi trên chính trường.
Thuyết của cụ như thế nào, người viết bài này chưa có dịp tìm hiểu kỹ.Ở trại Xuyên Mộc, cụ Hồ Hữu Tường cùng thuộc nhóm văn nghệ sĩ bị bắt năm 1976, chung với nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, nhà văn Duyên Anh, họa sĩ Đằng Giao …Tôi không ở chung nhà với cụ, song vì lòng ngưỡng mộ đã lâu, mỗi trưa cùng xếp hàng ngồi trên khoảng sân rộng chờ trực trại gọi tên từng đội đi ra ngoài lao động, tôi thường dõi mắt nhìn theo cụ. Hình ảnh của cụ mà tôi vẫn còn nhớ đến bây giờ là một cụ già với vẻ hiền hậu, chất phác quen thuộc, lúc đó phảng phất nét chịu đựng của một con người đã trải qua quá nhiều thăng trầm, vào những năm cuối đời trở thành một người tù bệnh hoạn.Những ngày ấy, mỗi trưa đi lao động, cụ mặc chiếc quần đùi màu đen, chiếc áo bà ba dài tay cũng bằng vải đen, đầu đội chiếc nón cối bằng nhựa, tay xách lủng lẳng chiếc lon guigoz mà hầu hết các người tù đều sử dụng để đựng nước uống mang theo. Mỗi lần đội của cụ được gọi tên, cụ đứng dậy bước đi bằng đôi chân đã sưng vù, tôi nhìn theo cụ mà lòng trào dâng một niềm thương cảm mênh mang.Một trưa nọ, trong lúc anh em chờ gọi đi lao động, trại loan báo một tin bất ngờ, có hai trại viên được lệnh chuyển đến trại Hàm Tân. Và chỉ có hai người, đó là Hồ Hữu Tường và Duyên Anh.Cái kết của đời cụ nhiều người đã rõ, một thời gian sau, cụ bị bệnh nặng, được trại Hàm Tân cho đưa về nhà, và cụ đã mất tại nhà. Dù sao cụ cũng may mắn hơn cụ Nguyễn Bá Lương và nhà văn Nguyễn Mạnh Côn.
* LỜI KẾT -Với thế hệ những người ở độ tuổi 20-40 vào thời điểm 30.4.1975, quá khứ, hiện tại và tương lai đầy rẫy những bất ngờ.
Ngọn gió thời cuộc thổi họ bay tứ tán, từ những trại cải tạo đến những khu kinh tế mới, những cuộc vượt biên kinh hoàng và cuối cùng số phận đưa đẩy họ đến nhiều đất nước khác nhau. Qua thời gian, sự khác biệt về địa lý cũng tác động ít nhiều đến cách nhìn, quan điểm của họ đối với những người đồng cảnh ngộ trước đây đang ở cách xa nhau. Điều đáng tiếc là một số người tù cải tạo sau 30.4.1975, sau khi trở về đời sống bình thường, đã trở thành tâm điểm của những cuộc phán xét và những cách hành xử “cứng rắn” nhất. Hai người nổi tiếng tiêu biểu cho trường hợp này là nhạc sĩ Vũ Thành An và nhà văn Duyên Anh. Hồi chúng tôi còn ở trại Long Thành, lúc đó còn cái tên “Trường 15 NV”, thì Vũ Thành An là Trưởng ban văn nghệ trường. Khoảng giữa năm 1976, tôi cùng vài bạn tù có hơn một tháng tập một vở kịch (có tên “Lửa Thù Sơn Mỹ”) với sự chứng kiến của anh An và hai cán bộ trại là Trưởng ban Giáo dục, trung úy Đức, và Phó ban là Thượng sĩ Mạnh. Anh An đi Bắc trong đợt “bao bố 1” nên tôi bặt tin từ đó. Nay được biết anh đã là một nhà tu tại Mỹ. Duyên Anh từ lâu đã là người thiên cổ, vợ anh vừa mới mất, ta không nhắc lại những gì anh đã trải qua và chịu đựng khi còn sống. Đã 45 năm qua rồi, chỉ mong rằng với những ai còn tồn tại trên cõi đời này, nên nhìn những người từng cùng chia sớt nhau từng chén cơm tù với lượng bao dung, và đặt mình vào từng tình huống riêng rẽ khi cần mang nhau ra phán xét. Cũng xin nói một sự thật là trong đời sống trại giam, một khi đã được cán bộ trại chỉ định bạn làm một “chức sắc” như đội trưởng, đội phó, nhà trưởng, nhà phó, là trong con mắt họ, bạn là người họ có thể khai thác được. Khai thác được tới mức nào là tùy ở khả năng của anh cán bộ và nhất là khả năng “xoay xở” của người tù. Khi bạn là một tù chức sắc, bạn sẽ phải tiếp xúc thường xuyên với cán bộ trại giam để báo cáo với họ những công tác mà họ giao bạn làm và bạn cũng sẽ thường xuyên đối mặt với những câu hỏi đại loại như: tâm trạng của anh em như thế nào, có “yên tâm cải tạo” không, có anh nào tỏ ra bất mãn không, có anh nào lười lao động không , có anh nào phát ngôn bừa bãi không, vv… và vv…. Bản lãnh và thực tâm của người tù chức sắc thể hiện rõ trong những tình huống này. Nếu anh ta muốn che chở cho bạn tù, anh ta sẽ báo cáo cầm chừng, giấu đi những gì mà bạn mình có thể bị lưu ý, trừng phạt; còn nếu anh ta muốn “lập công chuộc tội” để được xét tha tù sớm, hoặc để thanh toán một “ân oán” nào đó đang chi phối quan hệ giữa anh ta với những ai đó, thì đó cũng dịp tốt nhất. Phán xét một người tù chức sắc như thế là điều không dễ. Nó đòi hỏi sự sáng suốt, công tâm và cái nhìn đượm nét bao dung đối với những người đang ở tận cùng của đáy xã hội. Đôi khi hoàn cảnh sống cùng cực, những mơ ước quá tầm thực hiện biến họ thành những con thuyền chòng chành giữa làn sóng dữ và có thể thể ngữa nghiêng bất cứ lúc nào. Chính sự “chòng chành” đó đã khiến nhiều con người –chức sắc cũng như không chức sắc – sa ngã …
Thời đó, khái niệm “ăng-ten” (antenne) rất phổ biến, dành để chỉ những người tù sa ngã, chấp nhận làm những việc có thể có hại cho bạn đồng cảnh ngộ để mưu cầu một quyền lợi riêng tư như được giao những việc nhẹ, được đề nghị cho về sớm. Thành phần này gây nhiều xáo trộn trong tâm lý cũng như cách hành xử của anh em tù với nhau và không ít chuyện đau lòng đã xảy ra.Nhân ngày 30 tháng 4 hàng năm, nhắc chút kỷ niệm cũ, mong rằng trong cuộc sống đầy rẫy khó khăn, mỗi con người biết yêu thương nhau hơn, đùm bọc nhau và bao dung với nhau nhiều hơn nữa./-
Lê Văn Cẩn – ĐS 10
*Lê Nguyễn (Lê Văn Cẩn-ĐS10)
Trong cuộc sống của mỗi người, có những quãng đời gợi lại cho chúng ta nhiều kỷ niệm khó quên. Với tôi, cứ vào mỗi tháng tư, đó là kỷ niệm về những ngày sống ở các trại cải tạo Long Thành và Xuyên Mộc, với những nhân vật đồng cảnh ngộ mà nhiều người biết đến tên tuổi trong xã hội.Nói về đời tù thì phải bắt đầu từ cái ngày 15.6.1975, xách gói ra trường Trưng Vương, Sài Gòn,trình diện cải tạo theo yêu cầu “mang theo tiền bạc,đồ dùng đủ xài trong một tháng”. Trại cải tạo Long Thành nguyên là Làng cô nhi Long Thành dưới quyền điều hành của một người tên Tư Sự, sau 30.4.1975, nghe đâu từng là một “cơ sở cách mạng”.Ngôi làng cô nhi này từng một thời là một trung tâm từ thiện nức tiếng, ngày chủ nhật hàng tuần, người thiện tâm lên thăm viếng nườm nượp, hỗ trợ tiền bạc, thực phẩm, thuốc men. Từ tháng 6.1975, làng cô nhi biến thành Trường HTCT rồi Trại CT Long Thành. Trái với các trung tâm cải tạo tại các tỉnh do địa phương quản lý, trại CT Long Thành đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Cục trại giam Bộ Nội vụ nên mang danh số 15 NV. Trại chứa khoảng 3 ngàn người có dây mơ rễ má với chế độ VNCH, chia thành 4 khối:- Khối 1: viên chức các thành phần, gồm viên chức hành chánh từ cấp Phó Ty, Phó Quận đến Phó Tổng thống, các dân biểu, nghị sĩ, các thẩm phán (Chánh án, Biện lý, Phó Biện lý, Dự thẩm)- Khối 2: đảng viên các đảng phái “phản động”: Việt Nam Quốc Dân đảng, đảng Đại Việt, đảng Dân Chủ …, từ cấp Phó Bí thư Quận-Huyện trở lên- Khối 3: Nhân viên Phủ Đặc ủy Trung Ương Tình báo từ trung cấp trở lên- Khối 4: Sĩ quan cảnh sát từ Thiếu tá trở lên.4 khối này chia nhau khoảng 10-11 dãy nhà, mỗi nhà mang một số thứ tự từ 1 trở đi, có 4 gian rộng, chứa khoảng trên dưới 300 người. Tất nhiên, khối 1 là sự tập hợp thành phần tinh túy của một chế độ vừa sụp đổ, có người từng là Chủ tịch Tối cao Pháo viện như cụ Trần Minh Tiết, có người từng là Chủ tịch Hạ viện như cụ Nguyễn Bá Lương, có người từng là Bộ trưởng Tài chánh rồi Cố vấn Tài chánh Phủ Tổng thống như cụ Lưu Văn Tính, có người tùng là Trưởng phái đoàn VNCH trong Hội đàm Ba Lê như ông Nguyễn Xuân Phong, có người là kiến trúc sư lừng danh như ông Ngô Viết Thụ …, thôi thì đủ cả! Khối 2 có hai nhân vật nổi bật là cụ Vũ Hồng Khanh, nguyên lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng, thành viên chính phủ Liên hiệp kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và từng cùng ông Hồ ký với đại diện chính quyền Pháp Sainteny bản Hiệp định sơ bộ Hạ Long 1946. Năm 1975, cụ Khanh đã 77 tuổi, có lẽ là người tù lớn tuổi nhất lúc bấy giờ.Người thứ hai là luật sư Nguyễn Lâm Sanh, cương vị cuối cùng trong chế độ VNCH là Phó Chủ tịch Liên minh Á châu chống Cộng (chủ tịch là ông Phan Huy Quát, nguyên Thủ tướng Chính phủ), nghe kể lại từng mở văn phòng luật sư chung với ông Nguyễn Hữu Thọ, trước khi ông Thọ bỏ ra khu. Khoảng tháng 9-10.1975, có một đoàn căn cước của Bộ Nội vụ (sau là Bộ Công An) lên trại Long Thành làm hồ sơ căn cước từng người, lúc đó luật sư Thọ là Phó Chủ tịch nước. Nghe đâu lần này, một người con trai ông Thọ có tháp tùng đoàn công tác trên để thăm cụ Lâm Sanh.Ở khối 3, có một chuyện cười ra nước mắt: thông báo trình diện tập trung cải tạo định rằng thành phần công chức từ trung cấp trở lên của Phủ Đặc ủy TUTB đều phải trình diện, mà theo chế độ công chức của chính quyền VNCH, thư ký các loại được xếp vào thành phần công chức hạng B (trung cấp). Vì thế, thành phần đi trình diện tập trung cải tạo này có hàng trăm cô thư ký đánh máy của cơ quan trung ương tình báo này. Mãi đến 6 tháng sau, có lẽ duyệt xét thấy họ chỉ là những thư ký đánh máy thông thường, “chỉ đâu đánh đó”, Cục trại giam Bộ Nội vụ đã trả tự do hàng loạt, ngày họ về đông như mở hội. Đúng một năm sau, khoảng giữa năm 1976, việc thanh lọc các thành phần “học viên” hoàn tất, những ai xét “không có tội” được cho về, những ai “có tội” được ghi danh trong một văn bản chi tiết là quyết định 3 năm HTCT. Còn nhớ trong văn bản này ghi rõ hai chi tiết:- Ai học tập tốt, “lập công chuộc tội”, được xét cho về trước thời hạn
- Ai không chịu học tập, còn có tư tưởng chống đối, sẽ kéo dài thêm thời gian học tập.Như vậy, cũng có thể mặc nhiên hiểu là ai không lập công, cũng không chống đối, sẽ được về sau khi hết hạn 3 năm. Song điều này đã không xảy ra trên thực tế. Trong những năm 1975-1978, tại trại Long Thành, có hai đợt tập trung ra Bắc mà anh em tù gọi vui với nhau là đợt “bao bố 1” và “bao bố 2”. Danh xưng này ra đời trong hoàn cảnh như sau: một buổi sáng nọ, gần 3 ngàn trại viên được đưa lên Hội trường, nơi vẫn thường được nghe các cán bộ từ Sài Gòn lên thuyết giảng (trong đó có lần người thuyết giảng là nhà biên khảo văn học Hoài Thanh, đồng tác giả quyển Thi Nhân Việt Nam). Nhưng buổi sáng hôm đó không có là một bài thuyết giảng nào. Đó là buổi tuyên đọc một thông báo mà khi nghe qua, cả một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng của từng người trại viên một. Lệnh rằng ai có tên trong danh sách sắp đọc thì đi nhận một chiếc bao bố, về nhà dồn hết đồ đạc riêng vào đó để trại chở đi trước. Đó là một bất ngờ lớn nhất, không ai lường trước được và sự nhớn nhác, lo sợ bao trùm cả trại mấy ngàn người suốt một ngày liền. Cuối cùng thì số cả ngàn bao bố đựng vật dụng tùy thân và chủ nhân của chúng cũng được đưa về trại 16 NV tại Thủ Đức trước khi xuống tàu ra Bắc.Chuyến “bao bố 2” diễn ra một thời gian khá lâu sau đó, lần này đã quen rồi, sự xúc động không còn dâng cao như trước. Sau chuyến này, còn lại tại trại Long Thành khoảng 200 người thuộc khối 1 (các khối khác đã đi hết), có lẽ chờ để đi chuyến “bao bố 3”Nhưng chuyến đi vét “bao bố 3” đã không xảy đến, có lẽ do ít nhất 2 lý do quan trọng:
Hạ viện VNCH, cụ Nguyễn Văn Tho, cựu Trưởng khối Dân tộc Thượng Nghị Viện và cụ Cao Xuân Thiệu, một viên chức cao cấp lâu năm của chế độ cũ, cháu trực hệ của đại thần Cao Xuân Dục, Thượng thư bộ Học, Phụ chánh đại thần triều Duy Tân. (Từ “cựu” sử dụng trong trường hợp người đang được nói tới không còn giữ chức vụ trong một thời gian trước ngày 30.4.1975)Trong số những người được chuyển đến trại trước chúng tôi, có ít nhất bốn người thuộc thành phần văn nghệ sĩ: nhà văn Duyên Anh, đội trưởng đội rau xanh số 17, nhà trưởng nhà 2 (tạm gọi theo thứ tự từ nhà 1, tính từ hàng rào trở vào), họa sĩ Đằng Giao, đội trưởng đội rau xanh số 19, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, tác giả những tập truyện nổi tiếng: Kỳ Hoa Tử, Truyện Ba Người Lính Nhảy Dù Lâm Nạn… và học giả Hồ Hữu Tường.
VỀ NHÀ VĂN NGUYỄN MẠNH CÔN -Vừa nhập trại Xuyên Mộc vào buổi chiều thì buổi tối chúng tôi nhận được tin “nóng” đầu tiên về Nguyễn Mạnh Côn. Nghe kể rằng cách đó mấy ngày, trong một buổi sinh hoạt có cán bộ trại tham dự, ông Côn đứng lên dõng dạc tuyên bố là thời hạn ba năm cải tạo đã hết, ông cần được đối xử như một công dân. Các tù CT trẻ thuộc thành phần hiện hành vốn ngưỡng mộ nhà văn, cũng nhao nhao lên đồng tình ủng hộ.Cuối cùng ông Côn bị kết tội xách động và bị biệt giam. Khoảng một tuần lễ sau, có tin gia đình ông lên thăm nuôi, bị từ chối cho gặp, vì theo qui chế trại giam, người bị kỷ luật biệt giam không được hưởng những ân huệ hay quyền lợi như người tù bình thường, như không được ăn đúng khẩu phần, không được thăm nuôi …Không nhớ bao lâu sau nữa, ông Côn được thả về nhà ở cũ (nhà 2), có lẽ do lúc đó, sức khỏe của ông đã gần suy kiệt. Buồn hơn nữa là vào một buổi trưa đi lao động về, nhiều anh em được tin sáng hôm đó, mấy cậu trật tự (là quân phạm của chế độ mới) dẫn giải nhà văn lên cán bộ trực trại (một người tên Hưng, một người tên Độ) vì bắt quả tang ông Côn lục túi đựng đồ đạc của một đồng phạm, lấy một gói mì tôm. Sự tủi nhục của một con người đến mức đó là cùng. Nhiều bạn tù với ông không nghĩ là ông tệ đến thế. Trong đời sống trại giam, việc hai ba người góp gạo ăn chung với nhau là chuyện phổ biến, việc ông Côn lấy gói mì của một người ăn chung, hay của một người thường xuyên chia sớt cơm gạo với ông, và bị bọn trật tự muốn lập công làm nhục là điều có thể xảy ra. Lúc bấy giờ, nhà 1, nơi tôi ở, với nhà 2, nơi ông Côn ở (nhà trưởng là Duyên Anh), chỉ cách nhau khoảng 8 mét, ngăn đôi bằng một hàng rào kẽm gai. Chiều chiều, anh em mỗi nhà tập trung ngoài khoảng sân bên hông nhà, ngồi thành hàng lối để các cán bộ trực trại đến điểm số và lùa vào nhà, khóa cửa lại. Một buổi chiều, tôi ngồi chờ điểm số, ngó sang sân của nhà 2 qua hàng rào kẽm gai và nhìn thấy ông Côn ngồi ở đầu hàng. Ông gầy rộc như một bộ xương, thần sắc ông không còn một chút tinh anh nào, và tôi linh cảm một kết thúc đang đến rất gần với ông. Thật vậy, chỉ mấy ngày sau là ông qua đời.Sau này, nghe đâu, sự biệt giam và cái chết của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn là một trong nhiều lý do khiến nhà văn Duyên Anh phải hứng chịu những cách hành xử thô bạo ở nước ngoài. Người ta qui một phần trách nhiệm cho anh với tư cách là nhà trưởng nơi ông Côn ở. Đây là điều mà chỉ những người sống ở nhà 2, gần gũi, thân tình với cả 2 người có liên quan mới có thể nắm được mọi tình tiết.
Riêng người đang kể câu chuyện này chỉ có một hình dung rõ nét về một nhà trưởng Duyên Anh mỗi chiều thường xuyên chạy ra chạy vào thét lác anh em sớm tập họp điểm số. Phải chăng sự “năng nổ” và có phần nóng tính này là nguyên nhân gây ra những tai tiếng về anh? Khác với Duyên Anh là đội trưởng đội Rau xanh số 17, họa sĩ Đằng Giao (Trần Duy Cát), đội trưởng đội Rau xanh số 19, là con rể nhà văn Chu Tử, sống điềm đạm hơn, ít nói hơn (có lẽ do anh không làm nhà trưởng), nên về sau này, không ai gán cho anh tai tiếng gì. Tôi chỉ có một kỷ niệm nhỏ về anh: ngày đó, ngôi nhà chúng tôi đang ở cần tu sửa gấp, chúng tôi bị phân tán đi nhiều nhà, tình cờ, tôi “lạc” vào nhà có Đằng Giao ở và cơ duyên đưa đẩy anh và tôi được một lần nằm cạnh nhau, kể chuyện cho nhau nghe gần suốt một đêm dài…NGUYỄN BÁ LƯƠNG – Những năm 1968-1970, khi tôi về làm ở quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang thì anh Nguyễn Hảo T. làm Trưởng Chi Bưu Điện quận. Người ta cho biết anh T. là con rể cụ Nguyễn Bá Lương, đương kim Chủ tịch Hạ Nghị Viện.
Trước khi đắc cử dân biểu Quốc Hội, cụ Lương là Trưởng Ty Bưu Điện Phước Long.Vào nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên của nền đệ nhị Cộng hòa tại miền Nam, mọi hoạt động đều hướng về mục tiêu dân chủ hóa đời sống xã hội. Dù nền dân chủ còn non trẻ, nhưng các luật gia giỏi đã xây dựng được cho miền Nam lúc bấy giờ một tập quán dân chủ theo cách tổ chức của phương Tây. Để hoạt động được hữu hiệu, tránh cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”, phía Hành pháp tiến hành ráo riết các cuộc vận động hành lang để lôi kéo nhiều dân biểu, nghị sĩ nghiêng về phía thân chính quyền hầu đạt được túc số cao trong những cuộc biểu quyết các vấn đề quan trọng.Nhân vật được Phủ Tổng thống lúc bấy giờ sử dụng cho công tác quan trọng này có hai người, một là dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, chủ nhân nhà bào chế OPV, hai là ông Nguyễn Văn Ngân, thường được báo chí gọi tắt là Phụ tá Ngân. Họ giữ cương vị Phụ tá đặc biệt tại Phủ Tổng thống, xếp ngang Bộ trưởng về mặt hệ cấp (một phụ tá nữa là ông Huỳnh Văn Trọng, phụ tá về chính trị, dính vào vụ án “bí mật đi đêm” với phía miền Bắc và Mặt trận DTGPMNVN).Cũng xin tạ lỗi với vong linh cụ Lương để nhắc lại ba “hỗn danh” mà giới báo chí và các dân biểu đối lập (với phía Hành pháp) đã đặt cho cụ như một sự chế nhạo, nào là “hồi dương liệt lão” (có lẽ do cụ thường xuyên tẩm bổ trong lúc điều khiển phiên họp), nào là “ông già xào mì”, “ông già Bửu Hiệp” (có lẽ do ông quen thân với bà chủ xe đò Bửu Hiệp, chạy đường Phước Long, Sài Gòn). Đó cũng là cách các giới trên phản ứng lại với “Phủ đầu rồng” (Phủ Tổng thống) trong việc hậu thuẫn cho một người có thể làm lợi cho hoạt động của phủ.Sang nhiệm kỳ 2 của Quốc Hội VNCH, chức vụ Chủ tịch Hạ viện về tay ông Nguyễn Bá Cẩn, tốt nghiệp khóa đầu tiên trường Quốc Gia Hành Chánh (đầu thập niên 1950), từng làm Quận trưởng thời chính quyền Ngô Đình Diệm, sau đó là Phó Tỉnh trưởng tại nhiều tỉnh.
Tháng 4.1975, trong chính phủ áp chót của chế độ VNCH, ông Cẩn là Thủ tướng Chính phủ, người viết bài này còn giữ nghị định được ông bổ nhiệm vào một chức vụ lãnh đạo kinh tế cấp tỉnh. Nghị định ký ngày 22.4.1975, về đến địa phương ngày 28.4, chỉ còn không đầy 2 ngày cho sự kết thúc của một chế độ.Tháng 6.1975, cụ Nguyễn Bá Lương cũng trình diện HTCT tại trại CT Long Thành (tên ban đầu là Trường 15 NV). Tháng 9.1979, trong lần chuyển trại, khoảng 150 trại viên tại trại Long Thành được đưa lên trại Xuyên Mộc mới lập. Mỗi xe chở khoảng 30 người, chỉ có một cán bộ áp giải nên để an toàn, cứ hai người chia nhau một chiếc còng số 8, cụ Lương cùng cụ Nguyễn Văn Tho, Trưởng khối Dân tộc Thượng viện được miễn còng, nhưng phải ra ngồi sát ca-bin xe.Đến Xuyên Mộc, cụ Lương ở chung một đội với tôi. Chúng tôi lao động rất nặng nhọc trong rừng: thu dọn cây cối ngã rạp do đội Lâm sản đi trước cưa đổ, vỡ đất rừng cứng như xi-măng để trồng khoai lang, trồng bắp, cụ Lương được phân công công việc nhẹ nhàng hơn: lượm lặt chà cây, chất đống. Lúc này, tôi mới có dịp tiếp xúc nhiều với cụ, tôi hỏi cụ về anh Nguyễn Hảo T. đã nhắc ở trên, cụ xác nhận đúng là rể cụ. Tại Xuyên Mộc, người tù CT sau mỗi buổi lao động, được tắm sạch trên một khúc sông Ray, từ nổng cao xuống đến bờ sông phải lên xuống một đoạn dốc dứng hàng chục thước. Với chút dây mơ rễ má đó, tôi thường xuyên nắm tay cụ Lương, dìu cụ đi từng bước lên khỏi đường dốc, mà nếu đi một mình, cụ không bao giờ lên nổi.Lần cuối cùng tôi dắt tay cụ Lương lên khỏi dốc là một chiều thứ sáu. Tại dãy nhà 1, nơi cụ và tôi cùng ở, chỗ ngủ có 2 tầng, bọn trẻ thích ở tầng cao, ban đêm được chút ánh sáng, khoảng khoát hẳn; người có tuổi và những anh trẻ ngại leo trèo thì nằm tầng dưới. Tôi nằm tầng trên gần cửa ra vào, còn cụ Tho và cụ Lương thì nằm tầng dưới, phía trong dãy nhà, hai cụ già hủ hỉ với nhau.Sáng chủ nhật hôm đó, chỉ sau hơn một ngày kể từ buổi chiều tôi dắt tay cụ lên khỏi dốc ở sông Ray, cụ Tho thấy người bạn già vẫn chưa dậy sớm như mọi khi, bèn thò tay vào mùng cụ Lương lay bạn dậy thì cơ thể cụ đã lạnh ngắt tự bao giờ. Cụ Tho tri hô lên, người ta xúm lại thu xếp, khiêng cụ Lương đi qua chỗ tôi nằm, tôi chỉ kịp nhìn thoáng thấy cụ lần cuối.HỒ HỮU TƯỜNG – Với nhân vật này, nhiều sách báo, tư liệu đã viết khá đầy đủ về cuộc đời của cụ. Ở đây, chỉ xin được kể lại một vài điều mắt thấy tai nghe để bổ sung chút nào vào khối tư liệu về cụ.Trong thời tuổi trẻ của mình, lần đầu tiên tôi biết tên tuổi cụ Hồ Hữu Tường qua tác phẩm Phi Lạc Sang Tàu xuất bản khoảng những năm 1945-1946. Cụ nổi tiếng với tập truyện này vì qua những câu chuyện nửa hư, nửa thực có hướng tiên đoán thời cuộc thế giới, cụ đã dự đoán trúng phóc một sự kiện sẽ xảy ra 3-4 năm sau đó: đó là sự kiện lực lượng quân sự của Mao Trạch Đông chiếm lấy toàn bộ đại lục Trung Hoa vào năm 1949.Khoảng những năm cuối thập niên 1940, đầu thập niên 1950, cụ Hồ Hữu Tường sống ở Paris, Pháp, chủ trương nhà xuất bản Đông Phong, ấn hành một số tác phẩm, trong đó có ít nhất 3 tác phẩm của cụ là: Thu Hương, Chị Tập và Gái nước Nam làm gì. Giữa thập niên 1950, cụ đã về Việt Nam, hợp tác với các lãnh tụ tổ chức Bình Xuyên, với vai trò cố vấn (theo báo chí, tài liệu đương thời).
Sau khi lực lượng Bình Xuyên bị tiêu diệt, cụ cùng một số nhân sĩ bị truy tố ra tòa khoảng năm 1957 và bị kết án tử hình, giam tại trại giam Côn Đảo.Sau ngày lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm (1.11.1963), cụ Hồ Hữu Tường cùng những bạn tù chung vụ được trả tự do. Năm 1964, cụ đăng loạt bài “Trầm tư của một người tội tử hình” trên tạp chí Bách Khoa, và cho xuất bản nhiều tác phẩm như “Phi Lạc bỡn Nga”, “Phi Lạc náo Hoa Kỳ”, “Diễm Hồng xuất giá”, “thằng Thuộc con nhà nông” ….Năm 1967, cụ Hồ Hữu Tường bắt đầu lại cuộc đời hoạt động chính trị qua việc ứng cử dân biểu Quốc Hội. Trong thời gian vận động tuyển cử, Đài phát thanh Sài Gòn dành cho mỗi ứng cử viên một thời lượng phát biểu ngang nhau và lời phát biểu của cụ Tường là độc đáo hơn cả. Trong lúc hầu hết ứng cử viên vẽ ra những chương trình hoạt động đao to búa lớn, cụ phát biểu khá vắn tắt, đại khái chỉ nói rằng cụ nguyện làm cục đá, đồng bào có lăn vào Quốc Hội thì lăn.Và cử tri đã “lăn” cụ vào thật. Hoạt động của cụ tại Quốc Hội cũng không thấy có gì nổi bật, ngoại trừ sự kiện vào đầu tháng 9.1969, sau khi có tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời ở miền Bắc, cụ đứng giữa Hạ viện, đề nghị lập phái đoàn ra Hà Nội phúng viếng. Tất nhiên, đề nghị của cụ không được chính thức tán đồng.Năm 1971, trong lần bầu cử Quốc Hội khóa sau (1971), cụ Hồ Hữu Tường và con trai là kỹ sư Hồ Xích Tú (được cụ dùng tên để mô tả nhân vật Xích Tử trong Phi Lạc Sang Tàu) cùng ra tái cử và ứng cử, song đều thất cử.Về đời sống chính trị của cụ Hồ Hữu Tường, nhiều người biết cụ thuộc nhóm trí thức miền Nam theo nhóm Đệ Tứ quốc tế mà hai người nổi bật là Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu. Trong thời gian sống ở Pháp, cụ quen biết với một số nhân vật có tiếng, và sự kiện được nhiều người nhắc lại là lá thư của văn hào Albert Camus, giải Nobel văn chương 1957, gửi cho chính quyền Ngô Đình Diệm, đề nghị trả tự do cho cụ, sau bản án tử hình tuyên cho cụ vào năm 1957.Vào những năm 1960, một trong những đòi hỏi của chính quyền miền Bắc và nhiều thành phần chống lại chính quyền VNCH là trung lập hóa miền Nam Việt Nam. Tất nhiên, đòi hỏi này bị chính quyền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa chống lại triệt để, với lập luận cho rằng trung lập hóa là bước khởi đầu của việc Cộng sản hóa toàn bộ miền Nam. Trong những dịp này, người ta nhắc nhiều đến chủ thuyết Trung lập của cụ Hồ Hữu Tường, song cũng nhiều lần cụ minh xác là thuyết của cụ là Trung lập chế và không giống với hình thức trung lập hóa miền Nam đang là đề tài sôi nổi trên chính trường.
Thuyết của cụ như thế nào, người viết bài này chưa có dịp tìm hiểu kỹ.Ở trại Xuyên Mộc, cụ Hồ Hữu Tường cùng thuộc nhóm văn nghệ sĩ bị bắt năm 1976, chung với nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, nhà văn Duyên Anh, họa sĩ Đằng Giao …Tôi không ở chung nhà với cụ, song vì lòng ngưỡng mộ đã lâu, mỗi trưa cùng xếp hàng ngồi trên khoảng sân rộng chờ trực trại gọi tên từng đội đi ra ngoài lao động, tôi thường dõi mắt nhìn theo cụ. Hình ảnh của cụ mà tôi vẫn còn nhớ đến bây giờ là một cụ già với vẻ hiền hậu, chất phác quen thuộc, lúc đó phảng phất nét chịu đựng của một con người đã trải qua quá nhiều thăng trầm, vào những năm cuối đời trở thành một người tù bệnh hoạn.Những ngày ấy, mỗi trưa đi lao động, cụ mặc chiếc quần đùi màu đen, chiếc áo bà ba dài tay cũng bằng vải đen, đầu đội chiếc nón cối bằng nhựa, tay xách lủng lẳng chiếc lon guigoz mà hầu hết các người tù đều sử dụng để đựng nước uống mang theo. Mỗi lần đội của cụ được gọi tên, cụ đứng dậy bước đi bằng đôi chân đã sưng vù, tôi nhìn theo cụ mà lòng trào dâng một niềm thương cảm mênh mang.Một trưa nọ, trong lúc anh em chờ gọi đi lao động, trại loan báo một tin bất ngờ, có hai trại viên được lệnh chuyển đến trại Hàm Tân. Và chỉ có hai người, đó là Hồ Hữu Tường và Duyên Anh.Cái kết của đời cụ nhiều người đã rõ, một thời gian sau, cụ bị bệnh nặng, được trại Hàm Tân cho đưa về nhà, và cụ đã mất tại nhà. Dù sao cụ cũng may mắn hơn cụ Nguyễn Bá Lương và nhà văn Nguyễn Mạnh Côn.
* LỜI KẾT -Với thế hệ những người ở độ tuổi 20-40 vào thời điểm 30.4.1975, quá khứ, hiện tại và tương lai đầy rẫy những bất ngờ.
Ngọn gió thời cuộc thổi họ bay tứ tán, từ những trại cải tạo đến những khu kinh tế mới, những cuộc vượt biên kinh hoàng và cuối cùng số phận đưa đẩy họ đến nhiều đất nước khác nhau. Qua thời gian, sự khác biệt về địa lý cũng tác động ít nhiều đến cách nhìn, quan điểm của họ đối với những người đồng cảnh ngộ trước đây đang ở cách xa nhau. Điều đáng tiếc là một số người tù cải tạo sau 30.4.1975, sau khi trở về đời sống bình thường, đã trở thành tâm điểm của những cuộc phán xét và những cách hành xử “cứng rắn” nhất. Hai người nổi tiếng tiêu biểu cho trường hợp này là nhạc sĩ Vũ Thành An và nhà văn Duyên Anh. Hồi chúng tôi còn ở trại Long Thành, lúc đó còn cái tên “Trường 15 NV”, thì Vũ Thành An là Trưởng ban văn nghệ trường. Khoảng giữa năm 1976, tôi cùng vài bạn tù có hơn một tháng tập một vở kịch (có tên “Lửa Thù Sơn Mỹ”) với sự chứng kiến của anh An và hai cán bộ trại là Trưởng ban Giáo dục, trung úy Đức, và Phó ban là Thượng sĩ Mạnh. Anh An đi Bắc trong đợt “bao bố 1” nên tôi bặt tin từ đó. Nay được biết anh đã là một nhà tu tại Mỹ. Duyên Anh từ lâu đã là người thiên cổ, vợ anh vừa mới mất, ta không nhắc lại những gì anh đã trải qua và chịu đựng khi còn sống. Đã 45 năm qua rồi, chỉ mong rằng với những ai còn tồn tại trên cõi đời này, nên nhìn những người từng cùng chia sớt nhau từng chén cơm tù với lượng bao dung, và đặt mình vào từng tình huống riêng rẽ khi cần mang nhau ra phán xét. Cũng xin nói một sự thật là trong đời sống trại giam, một khi đã được cán bộ trại chỉ định bạn làm một “chức sắc” như đội trưởng, đội phó, nhà trưởng, nhà phó, là trong con mắt họ, bạn là người họ có thể khai thác được. Khai thác được tới mức nào là tùy ở khả năng của anh cán bộ và nhất là khả năng “xoay xở” của người tù. Khi bạn là một tù chức sắc, bạn sẽ phải tiếp xúc thường xuyên với cán bộ trại giam để báo cáo với họ những công tác mà họ giao bạn làm và bạn cũng sẽ thường xuyên đối mặt với những câu hỏi đại loại như: tâm trạng của anh em như thế nào, có “yên tâm cải tạo” không, có anh nào tỏ ra bất mãn không, có anh nào lười lao động không , có anh nào phát ngôn bừa bãi không, vv… và vv…. Bản lãnh và thực tâm của người tù chức sắc thể hiện rõ trong những tình huống này. Nếu anh ta muốn che chở cho bạn tù, anh ta sẽ báo cáo cầm chừng, giấu đi những gì mà bạn mình có thể bị lưu ý, trừng phạt; còn nếu anh ta muốn “lập công chuộc tội” để được xét tha tù sớm, hoặc để thanh toán một “ân oán” nào đó đang chi phối quan hệ giữa anh ta với những ai đó, thì đó cũng dịp tốt nhất. Phán xét một người tù chức sắc như thế là điều không dễ. Nó đòi hỏi sự sáng suốt, công tâm và cái nhìn đượm nét bao dung đối với những người đang ở tận cùng của đáy xã hội. Đôi khi hoàn cảnh sống cùng cực, những mơ ước quá tầm thực hiện biến họ thành những con thuyền chòng chành giữa làn sóng dữ và có thể thể ngữa nghiêng bất cứ lúc nào. Chính sự “chòng chành” đó đã khiến nhiều con người –chức sắc cũng như không chức sắc – sa ngã …
Thời đó, khái niệm “ăng-ten” (antenne) rất phổ biến, dành để chỉ những người tù sa ngã, chấp nhận làm những việc có thể có hại cho bạn đồng cảnh ngộ để mưu cầu một quyền lợi riêng tư như được giao những việc nhẹ, được đề nghị cho về sớm. Thành phần này gây nhiều xáo trộn trong tâm lý cũng như cách hành xử của anh em tù với nhau và không ít chuyện đau lòng đã xảy ra.Nhân ngày 30 tháng 4 hàng năm, nhắc chút kỷ niệm cũ, mong rằng trong cuộc sống đầy rẫy khó khăn, mỗi con người biết yêu thương nhau hơn, đùm bọc nhau và bao dung với nhau nhiều hơn nữa./-
Lê Văn Cẩn – ĐS 10
"Tom Tran" tom42tran@yahoo.comTo:
snguyen@bigpond.net.au, Dang_lan45@yahoo.com.au
Ngaỳ 11 tháng 11 năm 2009
Quý Anh Chị Đồng Môn
Trích yếu: Sự hợp lý của Nội Quy 2003
Cám ơn anh Hợp đã gời cho tôi Email của anh Hở nói rằng Nội quy 2003 vi phạm
điều 5150 luật Thành lập Tổ Chức Hội Bất Vụ Lợi của Califotnia. Rất đáng tiếc
cả Lưu Văn Trang và Giáo sư Tiến Sĩ Cao Văn Hở đêu sai !
Nội quy 2003 được soạn thảo qua các giai giai đoạn kéo dài gần hết năm 2003
(a) Thông baó cho các Hội về việc tu chính Nội quy 1981
(b) Dự thaỏ bản tu chính
(c) Gơỉ bản dự thảo cho các Hội tham khaỏ ý kiến với Hội viên
(d) Đúc kết ý kiến, gởi cho các Hội
(e) Công bố bản Nội quy năm 2003
Giai đoạn các Hội tham khaỏ ý kiến hội viên kéo dài gần 4 tháng, đó là giai
đoạn thực thi “quyền biểu quyết của hội viên” tại mỗi địa phương trên toàn thế
giới, không phải chỉ quyền biểu quyết của riêng của một số ngươì trong Hội nam
CA ( 5150) trong cái gọi là đaị hội thường niên của Nội quy 1981 mà các anh áp
dụng từ năm 1981 đến năm 1997
1) Sự thật mà nói trong thời gian chuẩn bị Tu Chính Nội Quy 2003 , anh Lưu Văn
Trang đang là Chủ tịch Ban Chấp Hành TH. đề nghị HĐQT đảm nhận viêc tu chính.
Có lẻ anh Trang chưa làm viêc tu chinh bao giờ, hoặc không muốn bận rộn về công
tác mệt nhọc nầy. Do đó mà BTT/HĐQT khởi đầu công tác này
2) Mặc dù biết rằng Nội quy 1981 lập ra cho Hội Nam CA, đến năm 1987 thì biến
thành Nội Quy của TH. Dĩ nhiên từ một Hội nhỏ đem ra áp dụng cho toàn thế giới.
Đúng là "con nhái muôn to bằng con bò" đó cũng là nguyên nhân của sự
khủng hoảng Đông Tây năm 1997-1999.
Ngoài các vấn đê khác, một khuyêt điểm lớn của Nội quy 1981 là vấn đế ấn định
"Quyền biểu quyết của Đại hội" cho Hội Nam CA và sau đó đem áp dụng
cho Đại hội thế giới của Tổng hôi. Quyền nầy áp dụng trong Nội bộ của Nam CA
thì hợp lý, vì Đaị hôị dễ dàng được triệu tập, mỗi lần họp khỏan năm, bảy chục
ngươì ăn nhậu và bầu bán từ năm 1981-1987.
Nhưng nếu đem áp dụng cho Đại hội toàn thế giới từ sau năm 1987, đã có tổ chức
Tổng hội, thì không hợp lý vì chưa có đaị hội naò có đông đủ đaị diện của các
Hội trên toàn thế giơi vế tham dự để biếu quyết các vấn đế liên quan đến Tổng
hội. Điêù 9 Nội quy 1981 ấn định “ Quorum: All such meetings, fifty members who
are in good standing shall constitute a quorum , said members can be present in
person or be represented by proxy”.
Vơí túc số 50 hội viên của Hội Nam CA mà muốn quyế định mọi việc liên quan đến
Tổng hội ?. Thủ tục bầu
bán Chủ tich Chắp Hành Tổng hôi vẫn giống như từ năm 1981-1987 khi chưa có tổ
chức TH. Nhất là các anh
trong BCH nam CA vẫn muốn duy trì tính trạng "biểu quyết cục bộ địa phương
" này để áp đặt quyết định của Nam CA lên trên CSV các Hội khác trên tòan
thế giới.
3) Đại Hội Nam CA thì CSV Nam CA tham dự, không có đại diện của 19 Hội khác
trên tòan thế giới tham dự, kể cả vấn đế bầu cử Chủ tịch Ban Chấp hành tư 1987
đến 1997. Sự viêc nẩy
không phải đã "truất quyến bấu cử" của CSV trên toàn thế giới hay sao
? vì thực sự Luật CA có
nói về điều 5150, nhưng trong Nội quy 1981 không có đều khoản naò về phổ thông
đầu phiếu, chỉ noí đến quyền biểu quyế trong đaị hội địa phương, nhờ đó mà suốt 10 năm chức chủ tịch Ban
Chấp Hành TH đã quay đi quẩn laị do anh Nguyễn Ngọc Liên, rồi anh Nguyễn Đắc
Điều thay nhau nắm giữ hầu như độc quyền, tiến đến là anh Lưu Văn Trang. Khi anh Châu Văn Để ra ứng cử thì
chính anh Nguyễn
Ngọc Liên đã muốn đưa người của phe ta ra bằng cách cho anh Châu Văn Để ra ứng
cử là do Cộng Sàn xúi dục ?
Trước đây, tôi lên tiếng về vấn đề nầy cũng là chuyện chẵng đặng đừng. Nếu
không, ai cũng tố cáo nhau, vô pháp vô thiên, tập thể sẽ sinh loạn, những người
tốt sẽ cảm thấy bị sỉ nhục, tính đồng môn sẽ bị lợi dụng, băng hoại.
(4) Đến năm 1997, khi anh Điều hết nhiện kỷ, vì bị áp lực nặng nề, Nam CA mới
phải chuyển qua Washington DC tổ chức bầu cử cho nhiệm kỳ 1997-1999. Sự chuyển
quyền Tổ chức Bầu cử có hai hậu quả :
(a) Nam CA đã mất cơ hội lợi dụng "quyền biểu quyết của Đaị hôi" ( cái mà anh Cao Văn Hở gọi là
quyền bầu cử/ biểu quyết của Hội viên, nhưng đó là quyền của CSV ở NAM CA,
nhưng không phải quyền của toàn thể CSV trên toàn thế giới ) về các vấn đề của Tổng hội như đã xaỷ
ra trong 17 năm qua taị Nam CA.
Các Đaị hội ở Nam CA nầy có hiệu lực khi còn là hôị Nam CA, nhưng khi chuyển
sang cấp Tổng hội thì các Đaị hội nầy không có hiệu lực vì CSV trên toàn thế
giới do 19 Hội khác không có cơ hội tham gia Đại hội. Do đó quyết định của một
nhóm ngươì ở Nam CA không có đủ tư cách đế quyết định các vân đế của TH kể cả
vấn đề tu chính Nội quy.
(b) Ví nhận thấy khuyết điểm của các Đại hội địa phương của Nam CA, không đủ tư
cách biểu quyết các vấn đế liên quan đến TH nên Đại hội taị WADC năm 1999 đã
không áp dụng quyền đại hôi biểu quyết do Nội quy 1981 ấn định . Vần đế đưa ra
trong Đaị Hội WADC là vấn đề nên dùng giấy phép naò cho Tổng hội. Giấy phép bị
hà tì của Nam CA, hay là giấp phép do Ban Chấp Hành mới ( Anh Lê Hữu Em / CT)
lập.
5) Đại hội WADC đã chuyển
giao cho Hội Đồng Quản Trị do anh Trương Thới Lai/ Chủ tịch/ biều quyết để giải
quyết việc tranh chấp nầy. Nếu
Đai hội WADC biểu quyết thì đã biểu quyết Tổng Hội dùng giấp phép mới do tiểu
bang Virginia cấp thay vì giấy phép cho California cấp vì đa số CSV tham dự cư
ngụ tại WADC.
6) Quyết định chuyển quyền lại cho HĐQT nầy đúng vì “biểu quyết của Đại hội địa
phương” thiếu hiệu lưc đối với tổ chức Tổng hội. Có nghĩa là vẫn áp dụng đìều
5150 của Luật CA, nhưng hình thức biếu quyết phải được thay đổi cho phù hợp vơì
trưòng hợp của Tổng Hội Cựu Sinh Viên QGHC trên toàn thế giới. Vì dù họp ở điạ
phương naò cũng không có đủ đaị diện của các Hội trên toàn thế giới tham dự. “
Chấp kinh mà phải biết tòng quyền” Luật về tổ chức các Hiệp Hội có tính cách
hướng dẫn, không cứng rắn như Hình luật. Có hằng ngàn tổ chức theo luật “ Bất
vụ lơị” nhưng không phaỉ Nội quy naò cũng giống nhau, mà Nội quy được uốn nắn
tuỳ nhu cầu, nhân sự, taì chánh, phạm vi hoạt động và nhiếu yếu tố khác …Vì thế
biếu quyết các vấn đề quan trọng phaỉ trả lại cho các Thành viên của Hội Đồng
Quản Trị biểu quyết mới có hiệu lực.
Các thành viên của HĐQT đại diện cho CSV trên toàn thế giới. Luật California
cũng ấn định " Section 5210 -Non Profit Public Benefit Corporations"
: Each corporation shall have a board of directors..... The activities and
affairs of a corporation shall be conducted and all corporate powers shall be
exercised by or under the direction of the board. The board may delegate the
management of the activities of the corporation to any person or persons...or
committee however composed, provided that the activites and affairs of the
corporation shall be managed and all corporate powers shall be exercised under
the ultimate direction of the board".
7) Tuy khuyết điểm như vậy, nhưng một số CSV Nam CA luôn luôn nêu lên vấn đế
quyến biếu quyết của đaị hôi điạ phương và khi vần đề biểu quyết các vấn đế của
TH đươc chuyển qua HĐQT, thì số ngưới naỳ la hoảng là hội viên bị truất quyền
quyết định để đánh lừa dư luận. Thử hỏỉ trong suốt những năm từ 1981 đến 1997,
theo Nội quy 1981, 95% CSV trên toàn thế giới đã bị truất quyến bấu cử Ban Chấp
Hành TH vì đã không được tham dự bấu cừ. Vì mỗi lần đaị hội chỉ vaì ba chục CSV
tham dự. Trong đaị hội năm 2004. tôi đềm thử chỉ có 59 hội viên, số còn lại
toàn là thân nhân đi theo CSV. tham dự tiệc.
8) Như vậy "Quyền biểu quyết trong đaị hôi " không có hiệu lực và đaị
hội năm 1999 tại WADC đã chứng minh nhận xét nầy là đúng. Quyết định của Đaị hội năm
1999 đã tạo nên tiền lệ. Các vần đế quan trọng liên quan Tổng hội do Hôị Đồng Quản
Trị quyết định.
9) Trong thơì gian soạn thảo Bản Tu Chính Nội quy 2003, HĐQT đã xem lại Nội
quy 1981 về thể thức tu chính . Section 44 của Nội quy cũ 1981 ấn định nhu sau:
" 1) The Bylaws may be repeal or amended or a new bylaws may be adopted at
the annual membership meeting. By a vote representing 2/3 of the voting power
2) The Board of directors shall also have the power to repeal or amend these
bylaws or to adopt new bylaws. " (Trích theo nguyên văn Nội quy 1981.
10) Theo điếu 44 trích dẫn ở trên , đoạn 1) Nội quy do đại hội thướng niên biểu
quyết đã trở thành vô hiệu vì 2 lý do"
(1) Nôị quy 1981 thiết lập vá áp dụng cho Hội Nam CA, đaị hội thường niên có
thể có hiêu lực vì CSV nam CA đến tham dự cũng được vaì ba chục ngươì và biểu
quyết các vần đế thuộc Hội Nam CA.
Tuy nhiên khi áp dụng cho Tổng hội trên toàn thế gìới thì đaị hội không đủ tư
cách đại diện cho toàn thê CSV trên toàn thế giới. Cho nên trên thực tế tự nó
đã trở thành vô hiệu.
Nhưng các Ban Chấp Hành từ khi thành lập Tổng hội, năm 1987 dến 1997 không chiụ
sửa đổi. Taị sao ? Tại vì không nghĩ đến hay tại vì muốn để như vậy để lừa bịp
anh em. ?
(2) Đaị hội 1999 tại WADC đã không áp dụng quyền biếu quyết của Đaị hôi là đúng
như đã nói trên và đó cũng là tiền lệ mà Nội quy 2003 đang áp dụng. Mọi quyết
định quan trong do các vị Chủ tịch đaị diện cho các Hội trên toàn thế giới biếu
quyết.
11) Đoạn 2 cuả Section 44 nêu trên ấn định " The Board of Directors ...
adopt new bylaws"
Vì doạn 1 bị vô hiệu vì thực tế và có tiền lệ đuợc đaị hội 1999 tại WADC~bác bỏ
Nội quy 2003 do Hội Đống Quản Trị chấp thuận chiếu theo đoạn 2 section 44. là
đúng luật, như đã quy định trong Nội quy 1981.” Hội Đồng Quản Trị có quyến tu
chính/chấp thuận Nội quy mới” thay thế Nội quy 1981.
12) Thế thì tại sao Anh Cao Van Hở baỏ rằng Nội Quy 2003 là vi phạm đíều 5150
của Luật Bất Vụ Lợi cuả Tiển bang Caliornia . ? là vì trong lúc đi tím lý do để
baì bác Nội quy 2003. Anh Cao Văn Hở đã vấp phải các lầm lẫn
(1) Anh Hở đã lợi dụng ngaỷ " Giỗ Thầy và Bạn" để bản vể một vần đề đáng
lý phải được bàn trong đaị hội thương niên của Hội Nam CA.
(2) Anh Hở đã vượt quyền vị Chủ tịch Hội địa phương đã làm một việc không thuộc
về nhiệm vụ của anh.
(3) Anh Hở đã lợi dụng tình cảm của những CSV tham dự lễ Giỗ đề chồng đối các
Thành viên của Hội Đống Quản Trị TH đã biếu quyết chấp thuận Nội quy 2003 và
buộc tội một cách sai lầm các thành viên HĐQT là chấp thuận Nôị quy một cách vi
luật
(4) Anh Hở quên rằng anh
Lưu Văn Trang cũng đã gơỉ phiếu biếu quyết chấp thuận tất cá các điếu khóan của
Nội Quy 2003, chi trừ đề
nghị thêm " Bấu Chủ tịch ban Chấp hành theo thể thức bấu Tổng Thông Hoa
Kỳ" .Tuy nhiên, vì hơn 2/3 các Hội khác không biếu quyết như vậy nên không
thể sửa đồi.
(5) "Khi
thấy anh Hở nhảy lên phát biểu, mặt maỳ tái mét, có vẽ hậm hực lắm, giống như
anh vừa run vừa phát biểu trong đai hội 1999 tại WADC ! Hội trưong bắt đằu trống
rỗng, nhiếu CSV bực mình vì sự lạc đề của anh Hở, nên bỏ ra về, chỉ còn lại 12 ngươì."Tôi
nghe thuật thêm rằng anh Hở thấy vậy quát thaó một cựu sinh viên " Anh tên
gì, taị sao bỏ về" Anh cựu sinh viên đáp lại " Anh lây tư cách gì mà
hỏi tên tôi, tôi là sinh viên cao học, được chưa?
Anh Hở ơi ! " Hành động trong lúc giận dữ cũng như trương buồm trong lúc
sóng gió, buồm rất dễ gaỷ và taù rất dễ bị chìm."
13) Vần đê biều quyết Nội Quy 2003 đúng theo Section 44 của Bản Nội quy 1981.
Tại sao anh Hở cho là Bản Nội quy vi luật? Taị ví anh Hở không hiểu ý nghĩa của
Nội quy, anh tưởng rằng điều 5150 có thể dùng đế phản bác sự hợp lệ của Nội quy
2003 do các thành viên của HĐQT biểu quyết. Anh Hở đã không nghĩ đến 2 vấn đế:
(1) Nội quy 1981 lập theo luật của California, nếu anh Hở chiếu điếu 5150 nói
vế quyền biếu quyết của hội viên thì trong thới gian từ khi lập TH , năm 1987
đến 1997, Nội quy của Nam CA chuyển thành Nội quy của TH trên toàn thế giới,
không có sự tham dự biểu quyết của toàn thể CSV trên toàn thế giới , như vậy có
phải các anh đã vi luật.Vì các anh đã không triệu tập đươc5 CSV trên thế giới
về đế ban cho quyến biếu quyết trong đaị hội
Vậy thì trong thực tế điếu khỏan nầy chưa được thi hành từ 1987 cho đến sau
2003,. Sau 2003, Nội quy đã được tu chính, tất cà cựu sinh viên trên toàn thế
giới được các Chủ tịch tham khaỏ ý kiến vá các vị Chủ tịch đaị diện các CSV
tham gia biếu quyết Nội quy 2003 và đại diện toàn thể sinh viên đã tham gia các
cuộc bầu cử Ban Chấp Hành Tổng Hội và Ban Thường Trực HHĐQT. Việc nầy chưa bao
giờ xaỷ ra trong các nhiệm kỳ của Tổng hội từ năm 1987 đến 1997 .
(2) Khi anh tham dự vaò việc thành lập Nội quy 1981 cho Hội Nam CA, sau đó đem
Nội quy nầy áp dụng cho Tổng Hội trên toàn thế giới. Anh không biết làm như vậy
là " lấy râu Ông nọ chắp cằm bà kia". Anh xem cả thế giới giống như
một tiểu bang CA .
Luật CA cốt yếu là áp dụng cho dân chúng CA, không có hiệu lực áp dụng cho toàn
thế giới. Nội quy 1981 đem ra áp dụng cho toản thế giới, các anh cũng không
biêt sửa đổi thế naò cho thích hợp, ngay cả vấn đế thông baó cho các Hội tại
Hoa Kỳ đăng ký Giấy phép do CA cầp tại các tiếu bang có Hội, các anh cũng không
biết lảm.
Một mặt vì các anh thiếu kinh nghiệm sinh hoạt vế các Hội đoàn. Anh Hở chưa bao
gìờ làm chủ tịch Hội Nam CA, hay một đoàn thể hay Công đồng naò tại CA, cho nên
thiếu kinh nghiệm thực tế vế vấn đế áp dụng luật lệ liên quan đến các tổ chức
bất vụ lợi. Có các anh Phú hay anh Lạc đã và đang làm Cộng đồng, anh nên hỏi ý
kiến những vị nấy.
Nếu không biết modify phương thức biểu quyết mà chỉ khư khư áp dụng điêù 5150
thì mới là bất ổn. Vì thế Nội quy 2003 ấn định lại các thành viên HĐQT, tức là
các chủ tịch các Hội trên toàn thế giới đại diện cho CSV trên toàn thế gìới để
biếu quyết Nội quy và các vân đế như Quy chế Bấu Cử BCH Tổng Hội hay Ban TT/
HĐQT , các vấn đế khác liến quan đến Tổng Hội. Nếu biểu quyết trực tiếp không
thực hiện thì phaỉ cách cho hội viên biếu quyết gián tiếp tức là qua vị đại
diện hay chủ tích Hội, thành viên của HĐQT Đàng naỳ, các anh không làm như vậy,
chỉ biết khư khư ôm ấp quyền biếu quyết cho một thiểu số, cả vú lấp miệng em,
đế baỏ vệ điạ phưong mình mà quên quyền lợi chung của CVS trên toàn thế giới.
14) Điều 5150 không thể giúp anh phản bác sự biếu quyết hợp tính, hợp lý và hợp
pháp của Hội Đồng Quản Tri về Nội quy 2003. vì 2 lý do mà anh không biết, tôi
cũng nêu ra đây cho anh rõ:
(1) Section 44, của Nội quy 1981 do anh và môt số ngươí khác soạn thảo "
The Board of Directors shall also have the power to repeal or amend these by
laws and to adopt new by laws" ( trich y nguyên văn) . Thế thì HĐQT đã
biều quyết Nội quy 2003 một cách hợp tính hợp lý, anh Hở không thể nói là truất
quyến bầu cử của Hội viên, vì HĐQT gồm các vị Chủ tích trên toàn thế giới đã là
nhũng đại diện cho toàn thế giới. Ngước laị Nôi quy 1981 đã thực sự truất quyền
của CSV trên toàn thế giới và danh quyền đó cho một thiểu số CSV Nam CA rong
các cuộc bầu cử từ 1987 đến 1997 .Vô lẻ anh không nhìn ra vấn đề sáng như ban
ngaỳ naỳ ?
(2) Mặc dù điêu 5150 có ấn định dành quyến cho Hội viên, nhưng như đã nói Luật
naỳ chỉ đế áp dụng cho dân chúng California chứ không đưọc ban hành cho dân
chúng trên toàn thế giơí, hay cho CVS sinh sống trên toàn thế giới vì không đủ
điêù kiện trở vế tham
đụ đaị
hội thường niêng của nam CA. Đó là khuyết điểm trầm trọng mà các anh không nhìn
ra, hoặc biết mà không sửa đổi, Quyền biêủ quyêt trong đaị hôi vì vậy chỉ có
thể áp dụng cho Nam CA, không thể áp dụng cho CSV tại các tiểu bang khác của
Hoa ký, còn nói gì đến CSV cư ngụ tại Canada, Anh, Pháp, các nuớc Âu Châu, Á
Châu, Úc Châu... Quyền biểu quyết nây trong Nôi quy 1981 trên thưc tế không áp
dụng được cho Tổng hội mà chỉ có thế áp dụng trong phạm vi Hội Nam CA mà thôi
anh ạ !
15) Nếu anh đi khiếu nại thì ngươí ta sẽ hỏi anh Nội quy nói gì . Khi đọc bản
Nôi quy sẽ thấy
" The Board of Directors shall also have the power to repeal or amend
these bylaws and to adopt new bylaws" . Ớ kià ! Thế thì các thành viên
HĐQT đã biểu quyết Nội quy 2003 hợp lệ, dế thay thế Nôị quy 1981, còn khiếu nại
caí gì nữa. ?
Tóm lại anh Hở đã rất chắc ăn khi nêu ra điêù 5150, nhưng luật naò cũng có lệ
(exceptions) và khi những gì có ghi trong Nội quy, rõ ràng là : " Hội Đồng
Quản Tri có quyến baỉ bỏ, tu chinh và chấp thuận bản Tân Nội Quy " thì
điêu naỳ được lưu ý hơn là điêu 5150.
nh có thể trích dẫn đỉều 5150 nếu chưa có Section 44. trong Nôi quy 1981.
Nội quy 2003 thay thế quyền biều quyết của đaị hội bằng biếu quyết của Chủ tịch
của tất cả các Hội, đaị diện CSVQGHC`trên toán thế giới. Còn anh Hở thì quan
niệm chỉ cần CSV Nam CA biểu quyết tất cả mọi viêc của Tổng Hội , không cần CSV
toàn thê giới tham gia, vì anh Hở là sáng lập viên của Hội Nam Cali."
Thuận Hở giả tồn, nghich Hở giả vong " .?
Tóm lại, anh Hở không thể bác khước Nôi quy 2003, cho rằng NQ 2003 bất hợp lệ,
vì HĐQT dại diện cho toàn thể CSV trên toàn thế giới đã biều quyết hợp lệ. Cá
nhân anh có quyến baì bác, nhưng HĐQT
có quyến bác bỏ dựa trên lẻ phải chứ không dựa trên cảm tính. Nội quy 1981 ấn địng HĐQT có quyến tu
chính, hoặc chấp nhận Nội quy mơi thì sự biếu quyết Nội quy 2003 hợp lý và hợp
pháp vì theo đúng thủ tục do Nội quy 1981 quy định để sửa đổi Nội quay 1981.
Trong bản nhận định về Nội quy 2003 chị GS Cao Thi Lễ cũng đã nhận xét
sự biếu quyết Nội quy 2003 là đúng, và
hợp lệ, nghĩa là Hội Đồng Quản Tri. gồm quý vị chủ tịch các Hôị đaị diện cho
tòan thể CSV QGHC trên toàn thế giới mơí có đủ thẩm quyến biếu quyết các vấn đế
quan trọng của Tổng đế thay thế " quyến biếu quyết cục bộ" của đaị
hội tại điạ phương Nam CA theo Nôi quy 1981 mà quý anh sáng lập viên của Hội
Nam CA quyêt tâm baỏ vệ, không cần suy xét đến quyền lợi chung của toàn thể CSV
trên toàn thế giới .
Một số ngươì không hiểu đã viết baì mạ lỵ GS Cao Thi Lễ thật là đáng
trách ........
Thân ai
Trần Xuân Thời
Tuesday, March 31, 2020
VẤN ĐỀ TỔNG HỘI CỰU SINH VIÊN HỌC
VIỆN QGHC TRƯỚC VÀ SAU NĂM 2007.
Trần Cao Lãnh/Lâm Hữa Xưa.
Thưa Qúy Thân Hũu và Các Bạn Trong, Ngòai QGHC;
Trong Tuyển Tập 2 (Bên Nầy Hiền Lương) chúng tôi chọn
lựa một số bài viết rất có giới hạn để lưu lại chuyện xảy ra trong nội bộ QGHC
liên quan đến việc cuối cùng Tổng Hội CSV/ QGHC phải ngưng họat động, phải
chính thức giải thể vào ngày 31-12-2009.
Việc giải thể Tổng Hội QGHC (THCSVQGHC) là một biến cố
lớn trong sinh họat của CSV/QGHC đã được hình thành từ thập niên 1980. Do đó
chúng tôi cố gắng ghi lại những gì đã xảy ra để hậu thế hiểu được một phần nào
những sinh họat của CSV/QGHC Hải Ngọai đã lâm vào những bế tắc mà phần lớn các
tổ chức Cộng Đồng Tỵ Nạn và các Đòan Thể Tự Do đã vướng phải và sinh họat
CSV/QGHC coi như là điển hình và mẫu số chung nhứt.
Để quý thân hữu cũng như các bạn đọc trong, ngòai QGHC
có thể hiểu được tuy khái quát nhưng cũng sẽ nắm được những đặc điểm căn bản
của vấn đề Tổng HộI QGHC. Do đó chúng tôi xin mạn phép nêu lại những diễn tiến hình
thành và bế tắc mà những văn bản trong các trang sau đây chỉ nói lên từng biến
cố chính mà không thể nào mô tả chi tiết của nhiều sự kiện đã được trao đổi qua
lại với hàng trăm văn bản mà sau đây chỉ là một số ít bài viết tóm gọn tiêu
biểu mà thôi.
Theo như tài liệu mà chúng tôi còn lưu trữ là hàng
trăm BẢN TIN của HộI Cựu SV/QGHC –Cali và sau nầy sửa đổi tên gọi thành TỔNG
HỘI CSV/QGHC Hoa Kỳ. Theo Bản Tin mà cũ mà chúng tôi hiện có là Bản Tin đề
Tháng 10 năm 1984 và Bản Tin Tháng 11 năm 1984 với danh xưng đơn giản là “Hội
Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh- Địa chỉ liên lạc là P.O.Box 1555-Garden
Grove, CA.92644. Căn cứ vào hai Bản Tin nầy thì Hội CSV/QGHC Cali. Đã được
thành lập và họat động vào hạ bán niêm 1984. (?)
Cùng với sinh họat Cựu SV/QGHC Cali. các nước Tự Do
như Đức, Canada, Úc … và các Tiểu Bang Hoa Kỳ có các CSV/QGHC định cư cũng lần
hồi thành lập các tổ chức sinh họat Cựu SV/QGHC với nhiều danh xưng khác nhau
như là Hội hay Gia Đình QGHC và đã nhanh chóng liên lạc kết nối với Hội Cali. Coi
như là Hội Cali là hội lớn nhứt, có nhiều Cựu SV/QGHC nhứt.
Chính vì Hội CSV/QGHC Cali Là Hội lớn nhứt, có cả mấy
trăm Cựu SV/QGHC sinh sống nên sinh họat rầm rộ hơn các hội ở các nơi khác
trong và ngòai Hoa Kỳ và đã có các Bản Tin hàng tháng gởi đi khắp nơi kể các
các nước ngòai Hoa Kỳ. Qua thập niên 1990 thì Hội Cali đã được các tổ chức Cựu
SV/QGHC khắp nơi hối thúc Hội Cali trở thành TỔNG HỘI CSV/QGHC để sinh họat có
nề nếp và thống nhứt hơn vì thập niên 1990 đã có nhu cầu sinh họat CSV/QGHC
phải tham gia vào sinh họat chung của Cộng Đồng Tỵ Nạn, hầu hết là họat động
Chống Cộng, Chống Tuyên Vận của Việt Cộng ở Hải Ngọai. Do đó mà Hội Cali đã
chính thức trở thành Tổng HộI CSV/QGHC Hoa Kỳ vào đầu năm 1990.
Vấn đề tổ chức HộI CSV/QGHC Cali ngay từ đầu chỉ đơn
giản gồm có BAN CỐ VẤN (Các GS) và Ban Chấp Hành gồm có một số Ủy Viên chuyên
môn và đứng đầu BCH là Chủ Tịch BCH.
Đến khi Hộ Cali trở thành TỔNG HỘI và đầu năm 1990 thì
sinh họat CSV/QGHC lại gặp phải một vấn đề khá tế nhị và rắc rối là có một số CSV/QGHC
nằm trong LIÊN MINH DÂN CHỦ do GS Nguyễn Ngọc Huy lãnh đạo và trong đó có sự
tham gia nổi bật như các anh LÊ TẤN TRẠNG- Cali, BÙI NHƯ SƠN-Đức, LƯU VĂN
CỦA-Úc… Các anh LMDC nầy muốn đồng hóa CSV/QGHC ngầm coi như là những người của
LMDC- Ngược lại đa số CSV/QGHC không tán đồng việc đồng hóa CSV/QGHC là người
của LMDC, phe không tán đồng lập luận cho rằng tuy LMDC là tổ chức của GS Huy,
một GS rất được tất cả CSV/QGHC quý trọng nhưng LMDC nhứt định không thể nào
đồng hóa tất cả CSV/QGHC đều là người của LMDC, vì hiển nhiên trong số
CSV/QGHC cũng đã có nhiều anh em tham
gia họat động ở các Đảng Phái khác. Cho nên đã có một số bất đồng, mâu thuẫn
nội bộ quanh chuyện LMDC đồng hóa CSV/QGHC. Lúc đó với các ý kiến qua lại cho
thấy đa số bất đồng với LMDC nhưng đều giữ im lặng duy chỉ có vài anh như
Nguyễn Ngọc Liên- Cali , anh Nguyễn Phát Quan-Texas và anh Lâm Hữu Xưa – Úc là
hay lên tiếng công khai bất đồng chuyện LMDC đồng hóa CSV/QGHC.
Lần hồi với sinh họat lớn mạnh cho thấy HỘI CSV/QGHC
MIỀN ĐÔNG Wash.D.C. và nhứt là hầu hết các Cựu Gíao Sư QGHC đều sinh họat Cố
Vấn cho Hội Miền Đông cho nên có ý kiến đề nghị TỔNG HỘI CSV/QGHC cũng lên luân
chuyển cho các nơi khác đảm trách thay vì như từ trước TỔNG HỘI chỉ nắm tại Nam
Cali.
RồI chuyện luân chuyển TỔNG HỘI CSV/QGHC đã được thực
hiện và TỔNG HỘI CSV/QGHC đã được Hội Miền Đông đảm nhận một vài nhiệm kỳ trong
thập niên 1990. Khi TỔNG HỘI CSV/QGHC rời Nam Cali thì tổ chức đã được sửa đồi
thành HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ gồm có tất cả các CHỦ TỊCH ĐỊA PHƯƠNG và BAN CHẤP HÀNH
nằm nơi đảm trách TỔNG HỘI.
Khi TỔNG HỘI còn ở Nam Cali và anh Nguyễn Ngọc Liên
giữ chức Chủ Tịch Tổng Hội thì anh Liên tổ chức bầu cử BCH bắng cách gởi phiếu
bầu đến từ Hội Viên CSV/QGHC kể cả các Hội Viên Ngòai Hoa Kỳ để lấy phiếu bầu
cử, nghĩa là mọi người có quyền bầu cử để chọn vị Chủ Tịch và BCH.
Nhưng khi TỔNG HỘI CSV/QGHC lưu lạc ra khỏi Cali,
không biết thời gian là lúc nào mà CÁCH THỨC BẦU CỬ đã được SỬA ĐỔI trở thành
chỉ có các CHỦ TỊCH ĐỊA PHƯƠNG mới được bỏ thăm bầu Chủ Tịch và BCH Tổng Hội và
BCH ở một nơi khác với HĐQT. Họ làm như vậy rất nhiều năm và mỗi lần bầu cử họ
chỉ ÂM THẦM liên lạc với các CHỦ TICH ĐỊA PHƯƠNG và từ đó các Hội Viên cá nhân
chỉ biết ai là CHỦ TỊCH TỔNG HỘI được họ loan báo mà không hề biết gì về NỘI
QUY hay BẦU BÁN như thế nào cả.
Chính vì ÂM THẦM SỬA ĐỔI như trên mà anh TRẦN XUÂN
THỜI –Minnesota đã giữ chức vụ CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ nhiều nhiệm kỳ, cả
chục năm không thay đổi. VÀ anh CHÂU VĂN – Cali cũng liên tục giữ chúc vụ CHỦ
TỊCH BAN CHẤP HÀNH TỔNG HỘI cũng cả chục năm như Trần Xuân Thời.
Việc bầu cử chỉ dựa vào các Chủ Tịch Địa Phương đã
khiến cho TỔNG HỘI CSV/QGHC đã trở thành MỘT BĂNG ĐẢNG CẤU KẾT VỚI NHAU mà các
hội viên chỉ nằm ngòai rìa mọi sinh họat của Tổng HộI và 2 nhân vật TRẦN XUÂN
THỜI và CHÂU VĂN ĐỂ cùng Khóa 12 đã trở thành một cặp bài trùng, thao túng Tổng
Hội không gặp một chống đối nào vì đa số tuyện đối các huynh trường CSV/QGHC đã
già yếu không màng cái danh lợi cong cong của thời trai trẻ. Các huynh trưởng
im lặng nên các đàn em cũng nín thinh và chính thế mà Trần Xuân Thời và Châu
Văn Để coi thiên hạ Ne Pas!!!
Chính Trần Xuân Thời nhân danh CT/Hội Đồng Qủan Trị đã
một mình viết ra Bản Nội Quy mới năm 2003. Bản NQ đó được Trần Xuân Thời mang
ra thi hành mà không hề được hỏi ý kiến của các hội viên CSV/QGHC. TrẦn Xuân
Thời và các chủ tịch địa phương âm thầm đồng ý với nhau bằng cách nào đó mà
không ai hay biết.
Đến năm 2007, Trần Xuân Thời tổ chức bầu của lại và vô
tình một email các anh chủ tịch địa phương trao đổi với nhau đã lọt vào địa chỉ
email của một CSV/QGHC ở Úc Châu và anh nầy đã phổ biến và yêu cầu anh chủ tịch
địa phương ở Úc xác nhận việc bầu cử sao chỉ đựa vào các chủ tịch địa phương
mới được bầu cử???
Sau đó với ý kiến XIN TRẢ LẠI QUYỀN BẦU CỬ của anh Lâm
Hữu Xưa –Úc đã khiến cho hàng chục các CSV/QGHC khác đã mạnh mẽ lên tiếng phản
đối 2 anh Trần Xuân Thời và Châu Văn Để. Lần hồi việc phản đối đã trở thành một
rối lọan khiến cho sinh họat Tổng Hội bị bế tắc và nội bộ QGCH đã trở thành 2
phe, một theo TXThớI gồm hầu hết các chủ tịch địa phương và phe chống đối đòi
QUYỀN BẦU CỬ gồm chừng 10 anh luôn tích cực viết bài phản đối với các Bút Hiệu,
không nêu tên thật và khóa học.
Phe Trần Xuân Thời gồm cả GS Cao Thị Lể -Wash.DC đã
công khai viết bài binh vực cho rằng NỘI QUY 2003 do TXThời tự làm, không lấy ý
kiến từng đồng môn nhưng vì NQ đã được áp dụng nhiều năm nên nó đã trở thành
như tình trạng DE FACTO của một cặp vợ chồng không hôn thú. Vì lý do DE FACTO
mà GS bị anh em chống đối đã nặng lời như có bài đã viết với lý do và bằng
chứng mà GS Cao Thị Lễ đã méo mó nghề nghiệp.
Việc chống đối đã kéo dài 2 năm từ 2007 đến cuối năm
2009 đã khiến cho nhiệm kỳ chủ tịch HĐQT của Trần Xuân ThờI mãn nhiệm và không
tổ chức được bầu cử tiếp tục vì ĐA SỐ CÁC CHỦ TỊCH ĐỊA PHƯƠNG đã không còn dám
ngang nhiên làm gia nô cho Trần Xuân Thời nữa. Trong số 17 chủ tịch địa phương
chỉ có một, hai vị còn gắn bó và đa số tuyệt đối án binh bất động, không nói
YES như trước nên hết thời gian hạn định bỏ thăm mà không có ai tham gia nên
Trần Xuân ThờI đành phải chánh thức ra quyết định giải tán TỔNG HỘI QGHC vào
ngày 31-12-2009.
Từ năm 2010 cho đến 2015, theo sự giựt dây kín đáo của
Trần Xuân Thời đã có nhiều gia nộ đứng ra gọi là PHỤC HỌAT TỔNG HỘI QGHC …
Nhưng qua 5, 7 lần mạo hiểm phục họat đều bất thành và một trong những lần PHỤC
HỌAT ấy là lần Hội Texas do NGUYỄN PHÁT QUAN vừa đắc cử là anh Quan ra tay ngay
nhưng vài tháng sau cũng thất bại thảm hại khiến cho tên tuổi anh Nguyễn Phan
Quan vẫn mãi ô nhục sau khi anh đã qua đời mấy năm nay.
Thưa Qúy Thân Hữu Bạn đọc trong ngòai QGHC;
Sở dĩ chúng tôi dông dài chỉ nhằm lót đường để quý vị
nếu có đọc những bài tập trung trong Tuyển Tập 2 với khá nhiều bài viết liên
quan không mạch lạc, từng đọan, từng
vấn đề TỔNG HỘI CSV/QGHC mà một thời rất sôi nổi chẳng những bên trong
mà còn lan rộng đến bên ngòai sinh họat Cộng Đồng Tỵ Nạn Hải Ngọai vì Tổ Chức
Tổng Hội CSV/QGHC là một tổ chức được nhìn từ bên ngòai rất đáng được tin cậy
và nể trọng. Nhưng rất tiếc chỉ vì một vài cá nhân sống bằng ảo giác gian manh
thường trực nên hàng ngũ CSV/QGHC bị vạ lây không ít. Rất tiếc nhưng tất cả đều
là sự thật và chắc chắn đa số tuyệt đối các CSV/QGHC không phải ai cũng như vài
con sâu Trần Xuân Thời và Châu Văn Để và việc méo mó bất cẩn của GS Cao Thị Lễ
chỉ là một tai nạn nghề nghiệp, chỉ bởI vì nhiệt tâm muốn dùng uy danh to lớn
của mình để nhận chìm một sự việc vô nguyên tác không nên xảy ra trong hàng ngũ
QGHC, một hàng ngũ lãnh đạo hành chánh cốt cán của cả thể chế đầy tiếc thương
VNCH đối với hậu sinh./-
Trần Cao Lãnh/ Lâm Hữu Xưa
Tháng 3/2020
Thursday, November 21, 2019
Thursday, September 26, 2019
Wednesday, September 25, 2019
Saturday, September 21, 2019
Friday, September 13, 2019
PHÂN ƯU
***

***
Vô cùng thương tiếc khi hay tin
Bạn NGUYỄN NGỌC ĐIỆP
Đốc Sự Khóa 14
Pháp Danh Thiện Hữu
Sinh Ngày 4/4/1946
Tạ Thế 13/9/2019
Tại Sài Gòn- Việt Nam
Hưởng thọ 74 tuổi (âm lịch)
Chúng tôi đồng Khóa 14 tại Úc Châu
Xin thành kính chia buồn cùng Chị
Điệp, các Cháu và Tang Quyến.
Cùng nguyện cầu cho Hương Hồn Bạn
NGUYỄN NGỌC ĐIỆP
sớm đến nơi Bình An- Miên Viễn.
Đồng kính bái biệt;
LNCương, NNDiệp, PXPhong, LHXưa
LNCương, NNDiệp, PXPhong, LHXưa
Subscribe to:
Posts (Atom)

